Phần này, Ngài Tu Bồ Đề thưa thỉnh Đức Phật về Pháp trụ tâm, hàng phục tâm như thế nào để đạt đến đạo lý rốt ráo, vô ngã.
Phật bảo: Trang thiện nam, thiện nữ nào phát tâm (đạt đến) Vô thượng chánh đẳng chánh giác (Phật quả) thì nên sanh (hay trụ) tâm như vậy: Diệt độ (độ hết) tất cả chúng sanh nhưng không thấy có một chúng sanh nào thật diệt độ. Vì sao?
Thiện nam, thiện nữ ở đây là hàng Bồ tát sơ phát tâm
làm Phật, chúng sanh là đối tượng của Bồ tát trong thời kỳ tu nhân ‘thượng cầu
hạ hóa’; phát tâm ở trong đây là sự phát khởi tâm Bồ đề, trụ ở vô tướng và hàng
phục tất cả vọng niệm, phiền não, phân biệt… của bốn tướng. Tuy có diệt độ, giải
thoát tất cả các phiền não của tứ tướng nhưng chẳng thấy có bất kỳ phiền não
nào thực sự là diệt độ, như thế là nghĩa gì?
Tâm Bồ đề vốn tròn đầy, thường trụ, đương thể hiện
thành, như mặt gương trong suốt, vì chúng sanh vọng tưởng, nhiễm trần, phan
duyên mà thấy có che lấp và có pháp để hàng phục vọng niệm. Sự thực, khi vừa
phát tâm là nhận chân được vọng niệm, ngay đây ở trong chân tánh, tự mình rõ thấy
rằng thể tính của tâm tròn sáng như ánh trăng, bản thể của trăng không quan hệ
gì với những đám mây vọng động xung quanh nó. Trong thể tâm rỗng lặng này,
không có các tướng: Nhơn, ngã, chúng sanh và thọ giả, nếu có thì không phải là
thể tính của Bồ tát, người thực sự giác ngộ.
Bồ tát khi sơ phát tâm thì trụ tâm ở chỗ ‘độ hết’ tất cả
chúng sanh, khi thực sự đã ‘độ hết’ rồi thì không thấy chúng sanh trong hay
ngoài thực sự là diệt độ, ngã pháp câu không, năng sở đều tịch lặng.
Bồ tát trụ ở Không tướng, không có pháp để phát tâm vô
thượng, bởi pháp chỉ là giả lập, đối trị chấp tướng. Ngay đương thể Không này
mà nói có pháp để tu, để trụ, để phát tâm hay đạt đến đều là hư dối. Nếu có
pháp để ‘đắc’ thì pháp ấy phải ngoài tâm; dùng cái ngoài tâm để tìm tâm bên
trong ư? Hay pháp ngoài tâm vì tâm ở bên ngoài, Phật ở ngoài ấy? Phật ở cái tướng
ấy? Nếu có Pháp để đạt đến cái Không ấy đều là mâu thuẫn và điên đảo, điên đảo không
chỉ ở ngôn ngữ, cách nói, nhưng ngay cả khái niệm tư tưởng về nó.
Do vậy, Đức Phật nói: Như-lai ở nơi Phật Nhiên Đăng
không có pháp gì để ‘đắc’ vô thượng Phật cả, bởi chân không này từ quá khứ nó
là không, hiện tại vô tướng, vị lai vô ảnh, nên không có pháp hay quá trình của
thời gian để tu chứng. Pháp là dụ chứ không phải thực pháp; nếu thực sự có thực
pháp để ‘đắc’ Vô ngã cũng như lấy khăn mà lau mảnh hư không, nên Phật Nhiên
Đăng mới thọ ký (thừa nhận) rằng Như-lai là thể như như, như kỳ
bổn lai, chân tánh trạm nhiên, không có nhiễm trưóc, cũng không đoạn diệt, nên
đời sau ‘đắc’ thành Phật, có danh Thích Ca Mâu Ni (Năng nhơn, tịch mặc). Trong
sự kết nối tâm tương tâm, Phật tương Phật này, Pháp Vô thượng chánh đẳng chánh
giác mà Như lai ‘chứng đắc’ là không thực và không hư, vì nơi thực tướng của diệu
pháp, không thể dùng sắc tướng để thấy, không thể dùng ngôn thuyết để cầu, chỉ
có cái thấy tự ngộ, nhìn đúng bản chất của sự vật bằng tâm Không thì tất cả
Pháp đều là Phật Pháp. Tuy nhiên, tất cả Pháp mà Đức Phật đã nói vốn là không
phải thực pháp, vì pháp ấy không có ngã tướng, chẳng phải tất cả pháp, chỉ nên
tạm gọi là tất cả pháp mà thôi, không nên trụ vào chúng. Cũng như thân người
cao lớn ấy không thực, vốn là duyên hợp, vô ngã tướng, chẳng phải có cái thực
tướng của thân cao lớn ấy, chỉ tạm gọi là thân cao lớn. Khi thực sự thấu rõ các
giả tướng, hiểu rằng khổ đau chỉ là những vọng niệm từ tâm, vị Bồ tát mới có
năng lực giải thoát thực sự.
Đức Phật lại bảo Ngài Tu Bồ Đề: Này Tu Bồ Đề, Bồ tát
cũng như thế, nếu nói ‘ta sẽ diệt độ vô lượng vô số chúng sanh, thì vị đó không
phải là Bồ tát, không phải là người giác ngộ. Người giác ngộ thực sự là người
rõ được thể tính của pháp là Không, nên không có pháp gì gọi là Bồ tát. Bồ tát
mà còn thấy có ‘ta’ độ hết chúng sanh hay hàng phục chúng sanh thì không phải
là Bồ tát, Bồ tát là người đạt được Vô ngã, nhân, chúng sanh và thọ giả tướng,
thâm chứng nhân không pháp
không, nội tâm rỗng lặng vô ngã.
Với trí Bát nhã quán chiếu, vị Bồ tát trụ ở tâm không,
thấy thân là giả, không còn trước tướng; khi ngã và pháp câu không thì cõi giới
Phật độ cũng không, trang nghiêm cũng chỉ là tạm gọi. Tất cả sự dàn dựng về tất
cả pháp chỉ là giả tưởng, người trí tuệ rõ biết không có cái ngã thường trụ bất
diệt, chỉ có cái không bất diệt, nơi lý không ngã và không pháp này, người ấy mới
thực sự là Bồ tát, đó là người giải thoát từ những ảo tưởng của chính mình đối
với vạn pháp.
Thích Nữ Tịnh Quang luận giảng
究竟無我分第十七
爾時須菩提白佛言•世尊•善男子善女人•發阿耨多羅三藐三菩提心•云何應住•云何降伏其心•佛告須菩提•善男子善女人•發阿耨多羅三藐三菩提心者•當生如是 心•我應滅度一切眾生•滅度一切眾生已•而無有一眾生實滅度者•何以故•須菩提•若菩薩有我相•人相•眾生相•壽者相•即非菩薩•所以者何•須菩提•實無 有法•發阿耨多羅三藐三菩提心者•
須菩提•於意云何 •如來於然燈佛所•有法得阿耨多羅三藐三菩提不•不也•世尊•如我解佛所說義•佛於然燈佛所•無有法•得阿耨多羅三藐三菩提•佛言•如是如是•須菩提•實 無有法•如來得阿耨多羅三藐三菩提•須菩提•若有法•如來得阿耨多羅三藐三菩提者•然燈佛即不與我授記•汝於來世•當得作佛•號釋迦牟尼•以實無有法•得 阿耨多羅三藐三菩提•是故然燈佛與我授記•作是言•汝於來世•當得作佛•號釋迦牟尼•何以故•如來者•即諸法如義•若有人言•如來得阿耨多羅三藐三菩提• 須菩提•實無有法•佛得阿耨多羅三藐三菩提•須菩提•如來所得阿耨多羅三藐三菩提•於是中無實無虛•是故如來說一切法•皆是佛法•須菩提•所言一切法者• 即非一切法•是故名一切法•
須菩提•譬如人身長大• 須菩提言•世尊•如來說人身長大•即為非大身•是名大身•須菩提•菩薩亦如是•若作是言•我當滅度無量眾生•即不名菩薩•何以故•須菩提•實無有法•名為 菩薩•是故佛說一切法•無我•無人•無眾生•無壽者•須菩提•若菩薩作是言•我當莊嚴佛土•是不名菩薩•何以故•如來說莊嚴佛土者•即非莊嚴•是名莊嚴• 須菩提•若菩薩通達無我法者•如來說名真是菩薩•

%20-%20Copy%20-%20Copy.png)
No comments:
Post a Comment