Thursday, April 16, 2026

Kinh Kim Cang - 6. Chánh Tín Hy Hữu

Đoạn này Đức Phật bảo Ngài Tu Bồ Đề về chánh tín (tin đúng=chánh kiến).

Phật dạy, chánh tín là điều hy hữu (hiếm có). Như  đoạn trên, kinh đề cập đến thấy đúng sự thật, không chấp trước tướng. Đối với chánh tín, Ngài chứng tín rằng 500 năm sau, nếu có người trì giới tu phước (hay tu tướng) mà vẫn có thể sanh tín tâm tin tưởng ở những lời này (kinh này)là chân thật bởi do người này không chỉ gieo trồng  thiện căn ( tu học) với một… Đức Phật mà vô lượng nghìn Đức Phật rồi; ý Ngài muốn cho chúng ta thấy rằng người đã trước tướng thì khó mà lãnh hội được kinh vô tướng này, ngoại trừ trường hợp hy hữu.

Vì sao? Những lời ở đây là những lời của vô ngã tướng, lời của sự thật, như ánh sao khuya trong không gian, chẳng ai nghĩ về nó hay tin nó để làm gì.

Tuy nhiên, Ngài bảo rằng, nếu ai đó khi nghe những lời này mà sinh lòng tin thanh tịnh, dù chỉ trong một niệm chợt khởi (vừa thấy vô ngã) thì Đức Như lai đều biết rõ người ấy phước đức vô lượng-phước đức không thể suy lường khi tâm của người ấy-ngay lúc ấy không có tướng ngã (tôi), tướng nhơn (tướng đối đãi/người khác), tướng chúng sanh, tướng thọ giả, tướng pháp và tướng phi pháp.

Ở đây Đức Phật chỉ nói với hàng Bồ tát (nguời tu tập trí tuệ), không còn chấp trước hiện hữu như sự khác biệt, quan điểm đồng nhất cái tôi và sự khác biệt là nguyên nhân của đau khổ phiền não. Người học Phật là người giải thoát từ quan điểm bản ngã cố hữu và có đời sống tự do từ tư tưởng chấp thủ.

Thấy được ngã tướng do duyên sanh, tập hợp của sắc (vật chất và quan điểm) người tu đạo sẽ không còn chấp trước đối tượng của bản ngã (nhơn tướng), và cũng không còn chấp trước sự khác biệt của tự ngã và chúng sanh ngoại giới (chúng sanh tướng). Khi bên trong đã nhận diện là không thì bên ngoài cũng sẽ thấy rằng tất cả chẳng khác biệt. Đây không phải là sự đồng nhất trong tư tưởng chấp thủ, đây là cái thấy chân thật về không, một sự giải thoát triệt để của bản ngã.

Một khi hành giả thấy được nội-ngoại không, ắt hẳn cũng sẽ nhận diện được thực hữu của tư tưởng về bản ngã cũng không: không còn quan điểm về sinh mạng tương tục, bản ngã bất biến, hay cá thể linh hồn bất tử (không còn thọ giả tướng/thọ giả tướng=相=jīvasajjñā: tri tưởng linh hồn. jīva: chúng sanh, sinh mạng hay linh hồn bất tử; sajjñā: quan điểm, tư tưởng). Ngã: Theo quan điểm của phái chấp thường ngoại đạo thời Phật là một linh hồn bât tử, là thực thể sinh mạng của chúng sanh, sau khi chết rồi, linh hồn bất diệt đi đầu thai trong sáu cõi xoay vần, linh hồn cũng là cá thể thường hằng bất biến (thọ giả tướng).

Đức Phật cho rằng không có gì là thật thể vĩnh hằng. Vật chất cụ thể vốn từ chân không, sự hình thành của bản ngã do duyên khởi và chấp trước; cho rằng có một thực thể bất biến cũng chỉ là tưởng tri.

Kinh nói rằng phước đức (tâm đức) vô lượng đối với người tin tưởng đối với lời này, vì sao? Vì lời này là lời của Chân không, người nghe một khi nhận ra nó thì phước đức cũng lớn như hư không lồng lộng không thể đo lường được. Khi một chúng sanh tu tập tâm không thì sẽ không còn chấp trước ngã, nhơn, chúng sanh, và tri tưởng, không còn chấp trước tướng cụ thể (pháp tướng) hay tướng tri tưởng (phi pháp tướng), nói cách khác, người học Phật không nên chấp pháp và chấp quan điểm về pháp.

Tất cả chúng ta đa phần đều chấp tướng vì thấy nó như là thực hữu, đắm theo nó và tưởng nó là thực, ngã chấp về tướng của tôi, ngã chấp về tướng người, ngã chấp về tướng chúng sanh, ngã chấp về tướng tri tưởng về bản ngã bất biến. Chỉ khi thấy rõ ngã tướng là duyên hợp, không thực thì sự chấp trước về đối đãi, ngoại tướng, tri tưởng đều vắng bặt.

Pháp là phương tiện để qua sông, Đức Phật dạy, như chiếc bè, đã qua sông thì lên bờ, bỏ bè lại, không nên chấp nó. Pháp thượng (thiện: như bố thí, làm lành…) cũng không nên chấp nên trụ, nên xả bỏ (ngã) nó, huống gì là phi pháp (pháp chấp ngã, quan điểm chấp, pháp ngoài lời dạy). Chiếc bè phương tiện cũng như xe hưu, xe dê, xe trâu Đức Phật dụ trong kinh Pháp hoa. Khi những trẻ em đang chơi trong nhà lửa đang cháy mà không hay, cha mẹ dụ ra khỏi nhà lửa để cho nhiều xe. Sự thật, không có các xe hưu, xe dê, xe trâu ấy. Đức Phật thấy chúng sanh luôn khởi niệm tham ái, hừng hực như nhà lửa đỏ, Ngài xót thương, dùng phương tiện dụ dỗ để cho người sơ cơ từ bỏ ngôi nhà tham ái đang luôn thiêu đốt ấy, mong cầu chứng các thừa các quả, khi ra khỏi nhà lửa tham ái thì chỉ có an lạc hiện tại chứ không có xe, quả, chứng… gì cả.

Không chấp trước ngã là chánh tín thực sự, một khi mặt mày bản ngã đã bị thiêu đốt, đau khổ về tự ngã cũng sẽ biến mất, vị Bồ tát chỉ còn lại tâm đại bi, hành Bồ tát đạo mà không cầu mong gì cả.

Thích Nữ Tịnh Quang luận giảng

正信希有分第六

須菩提白佛言•世尊•頗有眾生•得聞如是言說章句•生實信不•佛告須菩提•莫作是說•如來滅後•後五百歲•有持戒修福者•於此章句•能生信心•以此為實•當知是人•不於一佛二佛三四五佛而種善根•已於無量千萬佛所•種諸善根•聞是章句•乃至一念生淨信者•須菩提•如來悉知悉見•是諸眾生•得如是無量福德•何以故•是諸眾生•無復我相•人相•眾生相•壽者相•無法相•亦無非法相•何以故•是諸眾生•若心取相•即為著我人眾生壽者•若取法相•即著我人眾生壽者•何以故•若取非法相•即著我人眾生壽者•是故不應取法•不應取非法•以是義故•如來常說•汝等比丘•知我說法•如筏喻者•法尚應捨•何況非法•


No comments:

Post a Comment

New York - Buddhism News

Buddhism Lion's Roar

Buddhism | The Guardian

--------------TRUYỆN NGẮN NỬA HỒN XUÂN

My photo
Garden Grove, CA, United States
Thich Nu Tinh Quang (Phuong Thi Van) is a Vietnamese-American nun. Born in 1969 in Hue, Vietnam, she currently lives in Garden Grove, California. She became a Buddhist nun in 1978. She received teachings from her own Dhamma teacher, Venerable Dieu Khong and was ordained as a Bhikkhuni in 1989. She is the abbot of Dieu Khong Temple in Garden Grove. In addition to being a PhD in religious studies, she is a poet, author, and translator.