"Phật bảo: Tu Bồ Đề, nếu có người nói Phật thuyết tứ kiến: ngã, nhân..., như thế người này có hiểu đạo lý mà ta nói không?"
Tu Bồ Đề trả lời: Bạch Đức Thế tôn, không. Người ấy không thể hiểu được nghĩa mà Như lai nói.
Đoạn này Đức Phật lo sợ Tu Bồ Đề chấp tướng, chấp ngôn thuyết mà không thể thấy pháp thân của Như lai. Pháp thân của Như lai là trí tuệ vô tướng, không phải là tri kiến của tướng từ sáu căn và sáu trần, Phật nói lìa tứ kiến để phá chấp hữu, ly tướng để hiển lý Bát nhã. Khi thuyết Pháp Đức Phật chỉ vay mượn ngôn ngữ trần gian bằng tri kiến, như mượn thuyền để qua sông, đã qua sông thì biết bờ ấy không phải là con thuyền. Khi đã ở trong sự nhiệm mầu của chân tánh, rỗng suốt vô ngại thì tâm không sanh kiến chấp của ngã, nhơn, chúng sanh, thọ giả nữa.
Trong bản thể chơn ấy-chơn tri vô tri, chơn kiến vô kiến, vô sở bất kiến-không có gì là không thấy được. Như ta không thấy con mắt của ta, nhưng con mắt của ta thấy hết mọi điều. Khi không có tri kiến phân biệt, đối đãi thì bên ngoài mới có thể lìa lục trần, bên trong mới có thể lìa vọng động. Nếu tri kiến càng nhiều thì vọng trần càng sinh khởi. Hầu hết chúng ta đều chấp tri kiến làm thật, tri kiến nhiều chừng nào thì giá trị hiểu biết Phật Pháp cao chừng đó. Sự thực, hàng Phàm phu cả ngày sống với tri kiến đối đãi, không thể ngộ lý Bát nhã, không thể hàng phục vọng tâm, cả ngày bị tri kiến làm mê, không rơi vào năng tri chướng thì cũng rơi vào sở tri chướng, không rơi vào sở kiến phần thì cũng rơi vào năng kiến phần.
Kinh Kim cang là kinh cho người tu tuệ phá tứ kiến, đối với người thượng căn mới có thể tin và hiểu đúng. Ở nơi tất cả pháp, người phát tâm Chánh đẳng chánh giác, đã thấy biết, tin, hiểu như thế rồi thì chẳng sanh pháp tướng, người ấy tức đã ngộ diệu lý vô tướng thì tự nhiên hành diệu hạnh vô tướng, ngộ được sự vi diệu của chơn không vô tướng mà tự tại an lac.
Nếu lìa bốn tướng bất sanh tri kiến thì rõ được các pháp đều từ bổn nguyên thanh tịnh thật vô sở đắc, rõ sanh tử và niết-bàn là không hoa, ngay nơi bản thể vắng lặng, tri kiến mà không tri kiến, lìa hữu và vô thì gọi là bất sanh-không sanh tà kiến hay chánh kiến, không còn sự đối đãi với muôn pháp.
Như đây mà tri, là tri vô sở tế; như đây mà kiến, thì kiến vô sở chướng; như đây tín giải tức là diệu ngộ và bất sanh pháp tướng.
Phật bảo: Tu Bồ Đề! Pháp tướng mà Như lai nói ra vốn không phải pháp tướng vậy. Thể tánh của pháp tướng là chân không pháp tướng, người không vọng kiến có thể hiểu, như thể tính của ánh trăng là chiếu sáng, người có mắt có thể thấy biết. Người theo vọng cảnh huân tập thành vọng tâm, vọng tâm thủ vọng cảnh, tâm ở nơi sự thủ pháp, nghi chướng càng tăng, nên gọi là "đoạn trừ phiền não trùng tăng bệnh, xu hướng chân như diệc thị tà".
Nếu hiểu đươc dụng Bát nhã, không lìa tri kiến, không bị tri kiến làm chao động, liễu ngộ đươc bản tâm, như thị tri như thị kiến, thì không sanh pháp tướng vây.

%20-%20Copy%20-%20Copy.png)
No comments:
Post a Comment