Ở Phần trước, Đức Phật nói Tứ thánh quả vô sở đắc; đọan này Đức Phật bảo rằng Phật quả cũng vô sở đắc, cũng chỉ là danh xưng mà thôi.
Kinh ghi, Đức Phật Thích Ca ở kiếp quá khứ từng học Pháp với Đức Phật Nhiên Đăng (Dīpaṃkara), được Phật Nhiên Đăng thọ ký rằng Ngài sẽ là Phật ở hiền kiếp trải qua 91 kiếp tu hành. Tuy nhiên, ở đây Đức Phật nói rằng, ở thời Phật Nhiên Đăng, Như lai thực vô sở đắc, không có đắc Pháp gì cả. Ở thời Phật Nhiên Đăng Ngài chưa chứng ngộ, và pháp thực vô sở đắc, Pháp ở thời quá khứ là Pháp bất khả thủ, Pháp chỉ là danh xưng, nên thành Phật cũng là giả danh. Vì đối trị căn bịnh trụ tướng của phàm phu, nên mới có danh xưng Thánh, Hiền…quả vị sai biệt.
Vì muốn phá chấp tham tướng, ở nơi vô vi mà có
pháp hữu vi. Thực tướng của Pháp là không, và không thể đắc, là không pháp
tướng. Ở nơi Phật Nhiên Đăng (quá khứ) Ngài chưa từng đắc Pháp thì làm gì mà
(bây giờ) có thành Phật, tất cả quá trình là giả lập, giả danh, chỉ là hư
huyễn, là không thực tướng. Nói có thành có đắc là là còn trụ vào ngã tướng và
nhân tướng, như bóng nắng, nhìn thấy muôn hình, nhưng tự thân nó chẳng có hình
thù gì cả.
Để minh chứng cho pháp ‘vô sở
đắc’ấy, Đức Phật đặt câu hỏi: “Tu Bồ Đề, Bồ tát có trang nghiêm Phật độ không?”
Câu hỏi cũng là câu trả lời: Đã là không pháp tướng, không Phật tướng thì cõi
Phật làm gì có để mà trang nghiêm (làm đẹp). Vì Phật và Pháp là không, nên đất
Phật là đất tâm, ở nơi tâm không, tâm thanh tịnh, tâm không trụ, không nghĩ nơi
sắc, thanh, hương, vị, xúc; khi không trụ tướng ngã, không khởi niệm đối với lục
trần mà sanh thanh tịnh tâm, đó mới gọi là làm cho tâm trang nghiêm, tuyệt đẹp.‘Trang
nghiêm Phật (tâm) độ’cũng không phải là điều có thể thấy biết qua lục căn, mắt,
tai, mũi, lưỡi, thân và suy nghĩ của con người theo định luật vô thường, thay đổi
không ngừng; tư tưởng, nhận thức giới hạn bởi không-thời gian, có thể nào quan
điểm về sự‘trang nghiêm’kia lại có thể chính xác và tương đồng trong một giai
đoạn nhất định. Trang nghiêm mà phi trang nghiêm là trang nghiêm mà không trụ
tướng ngã, nhơn. Với tâm ‘không’ mà trang nghiêm là sự trang nghiêm của tâm
thái đã giác ngộ, giải thoát, ly dục và phiền não. Một người hành đạo, làm việc
Phật Pháp, nếu lìa chấp tướng, ngã tướng, nơi không dụng ý mà hành thời tâm thực
sự thanh tịnh an lạc.
Phật và Pháp là vô sở đắc, cõi nước cũng không, Phật, Pháp và cõi nước
là chẳng thực có, nghĩa là Phật, Pháp… không phải là nhận thức theo căn, trần,
thức như đa phần; Phật Pháp nằm ngoài những suy tưởng từ những hình tướng cụ thể
có mặt trên thế gian, để thấy và thâm nhập Phật Pháp, Phật khuyên: lìa nhân,
ngã… tướng.
Một ví dụ khác về tướng của
núi Tu Di (須彌山, Sumeru), tương truyền cao 80 nghìn Do tuần, Đức Phật nói rằng
như ai đó có thân cao lớn như Núi Tu Di cũng không phải là cao, vì tất cả tướng
đều là không tướng, thấy thân chẳng phải là thân mới gọi là thân lớn, có nghĩa
rằng giá trị ước lượng của nhận thức không chính xác; sự thực chỉ ở nơi vô
lượng, không thể nhận biết theo giới hạn của căn trần. Nhận thức về người kia
có thân cao lớn bằng ngọn núi chỉ là ảo tưởng của nhận thức, cái cao lớn ấy vốn
chẳng phải bên ngoài, đều từ nhận thức bên trong.
Khi con người không còn nô lệ những giả danh,
hư tưởng, khi tâm không còn kẹt tướng, mới có thể an tịnh tâm ý, tự trang nghiêm
tâm mình thay vì trang nghiêm theo những lối mòn khái niệm.
Thích Nữ Tịnh Quang luận giảng
莊嚴淨土分第十
佛告須菩提•於意云何•如來昔在然燈佛所•於法有所得不•不也•世尊•如來在然燈佛所•於法實無所得•須菩提•於意云何•菩薩莊嚴佛土不•不也•世尊•何以
故•莊嚴佛土者•即非莊嚴•是名莊嚴•是故須菩提•諸菩薩摩訶薩•應如是生清淨心•不應住色生心•不應住聲香味觸法生心• 應無所住而生其心•須菩提•譬如有人•身如須彌山王•於意云何•是身為大不•須菩提言•甚大•世尊•何以故•佛說非身•是名大 身•

%20-%20Copy%20-%20Copy.png)
No comments:
Post a Comment