Phần này Đức Phật nó rằng bốn quả-đẳng cấp của trình độ tu chứng đều không thể đắc, vì nếu còn nghĩ mình đắc thì còn chấp trước bốn tướng: ngã, nhơn, chúng sanh và thọ giả.
Tại sao Đức Phật nói đến Tứ quả rồi lại phủ nhận chúng? Không chỉ Đức Phật mà tất cả Thánh hiền ở nơi Pháp không mà có sai biệt, như đất không mà sinh ra muôn vạn hình thù khác biệt.
Từ Tam chuyển-Thập nhị hành pháp đầu tiên, rồi đến Mật, Hiển
giáo, phân chia Thanh văn, Duyên giác…đến thời kỳ Tông: Câu xá, Thành Thật, Tam
luận tông, Pháp tướng tông, Thiên thai tông, Hoa nghiêm tông, Thiền tông, Tịnh
độ Tông, Luật tông… mỗi một Tông phái đều dựa trên quan điểm, luận cứ làm cơ sở
tu hành cho Tam thừa, Tứ quả, nhưng tựu trung
không ngoài ly dục, lìa chấp tướng để giải thoát giác ngộ.
Trong kinh này, Đức Phật muốn cho hàng đệ tử-những vị thượng
cơ lãnh hội tông chỉ duy nhất của Phật Pháp, rốt ráo là không. Pháp vốn phi khả
thủ, vô khả trụ, tất cả Pháp đều là giả lập, không phải là thực Pháp. Do vậy, Tứ
thánh quả cũng chỉ là phạm trù của tư tưởng, nhận thức đối với căn, trần và thức,
không phải là đặc tính cụ thể để chúng ta có thể nắm bắt chúng.
Với Tu-đà hoàn (Nhập lưu) quả, được hiểu là hành giả phát
sanh trí tuệ, đoạn hết kiến hoặc (nghi ngờ) tam giới, cũng còn gọi là Nhập lưu
(nhập vào dòng Thánh quả; đây có thể gọi là Đệ nhất chánh kiến. Tuy nhiên, Kinh
Kim Cang nói rằng, nhâp lưu: Không nhập vào sắc, thanh, hương, vị xúc và pháp
trần, là người có được chánh kiến như thực, không xuôi theo dòng dục của căn-trần.
Sắc, thanh, huơng, vị…không có tướng của ngã, không có tướng nhơn…Nhập lưu là
không nhập gì cả, không nhập vào nơi đâu cả, ngay cả nhận thức cũng không trụ
nhập, chấp trước; đó chỉ là nhập dòng tâm không, không còn khái niệm của ngã tướng,
nghĩ mình đắc quả Tu-đà hoàn, như một người đanh chơi đàn, trong lúc gõ nốt đàn
họ không có suy nghĩ mình đang chơi đàn mới thực sự là chơi đàn. Thực thể của
ngã là Không, làm gì có cái sinh ra tướng quả.
Tư-đà-hàm (Nhất vãng lai) quả: Đoạn được sơ phần của tư hoặc
(phiền não), vẫn còn một phen ở trong cõi dục giới, gọi là Nhất vãng lai. Kinh
cho rằng Nhất vãng lai mà thực là không vãng lai mới gọi là Nhất vãng lai. Chỉ
trên khái niệm mà có cái gì đó vãng lai, qua lại một lần ở nơi đâu đó, hoặc đụng
lại một chỗ nào đó, đi vào một chỗ dục nào đó…Sự thực làm gì có cái ngã cụ thể
nào đó, cái ngã bất diệt nào đó đến hay đi vào một chỗ nào đó nhất định. Bản ngã
là duyên sinh trên những vật chất cụ thể, vô thường, tương ứng với một hệ thần
kinh suy tường luôn thay đổi. Bản thể là sự trống vắng của nhận thức, không có
mặt cho những tri tưởng hay hoang tưởng mơ hồ.
A-na-hàm (Bất lai) quả: Đoạn hết dục giới tư hoặc, không còn
tái sinh trong dục giới. Tuy nhiên, kinh nói Bất lai thực sự Bất lai mới gọi là
Bất lai. Khi một người nghĩ mình đắc được Bất lai, không còn tái sinh, không đi
đến một chỗ nào đó, có nghĩa là tư tưởng người ấy đồng nhất tự ngã ở hay trụ vào
một điểm nào đó, thấy có chỗ này và chỗ kia khác biệt. Nếu nghĩ rằng tham dục và
phiền não đã đoạn tận, người ấy thấy có một bản ngã cố hữu, độc lập với tư duy,
làm chủ tư duy, giải thoát khỏi ý nghĩ và tham muốn, như dòng nước nghĩ mình không
phải là con sóng. Đức Phật dạy, Bất lai nhưng không có tướng Bất lai, không có
ngã tướng ở nơi đến hay đi, nơi bất hoặc hữu. Một tư tưởng không có định kiến
hoặc phạm trù của ngôn ngữ hay khái niệm, thực sự là một tư tưởng giải thoát.
A-la-hán (Vô sanh) quả: Hoàn toàn đoạn tận tam giới tư hoặc,
ra khỏi tam giới (dục, sắc, và vô sắc giới). Ở đây, Đức Phật nói là không có Pháp
để đắc quả Vô sanh, nếu nói rằng ta ‘đắc’ thì còn chấp trước tướng ngã, nhơn,
chúng sanh và thọ giả (bản ngã bất biến). Khi nói ‘đắc’ là đắc như thế nào (?),
Vô sanh thì có cái gì đó phải có cái ‘tướng’ Vô sanh (?) Như khi ta nói cái cây
dừa vô sanh vì cây dừa là một vật thể, trước kia nó sanh bây giờ nó không sanh.
Bây giờ không sanh thì nó ở đâu với sự không sanh đó? Bản ngã lại là vô tướng,
và nó cũng vốn là không tướng, chấp cái không của bản ngã lại là một sự mâu thuẫn
của suy nghĩ, cũng không ngoài bốn tướng của ngã. Nói rằng vị ấy đọan hết phiền não tư hoặc, thoát
khỏi tam giới, vị ấy đã giải thoát hoàn toàn là giả thuyết. Sự thực vị ấy không
‘đoạn’ hay ‘chặt’ cái gì để ‘đạt’ cái gì đó. Vị ấy chỉ giải thoát những suy tưởng
về tự ngã, hay đồng nhất mình về tự ngã, vị ấy đã tự do từ bản ngã cố hữu mà thôi.
Vì không chấp trước, nên tạm xưng là A-la-hán quả.
Trong thực thể Không Sanh (Subhuti), Ngài Tu Bồ Đề đạt được
Vô Tránh Tam Muội (Araņa-Samãdhih)-Chánh định, bực ly dục A-la-hán đạo quả. Du Già Sư Địa Luận
nói: “‘Vô tránh tam muội’ chính là không có nhân ngã, kia đây cao thấp, phân biệt
thánh phàm, nhất tướng bình đẳng, đối với chân không cũng vô trụ, nếu có trụ tức
còn đối đãi, bèn sanh tranh luận, mãi trói buộc sanh tử” (「無諍三昧」,就是無我人、彼此高下、聖凡之分,一相平等。連真空亦無住,若有住者,即有對待,便生諍論,長繫生死矣《瑜伽师地论》)
Để trắc nghiệm lại sự tu chứng của mình, Tu Bồ Đề bạc Phật
rằng Ngài không tự nghĩ mình ‘đắc’ đạo A-la-hán, Ngài chỉ đơn giản với hạnh tịch
tĩnh (A-lan-na (寂靜處)), ở nơi tịch tĩnh, ít người biết đến, Ngài thực sự không khởi niệm,
không sở hạnh, không hành tung, chỉ là hạnh tịch tĩnh; nơi ấy có một tướng mà
không tướng, nơi mà bản ngã và tư tưởng vắng lặng, có chăng chỉ tiếng gió reo,
suối chảy, chim hót, hoa nở, hoa tàn; và khi ngôn ngữ lặng câm trong không gian
mênh mông bất tận ấy, có một con người rất thực, hoàn toàn tự do khi đã giải
thoát từ những suy tưởng về muôn vẻ của bản ngã.
Thích Nữ Tịnh Quang luận giảng
一相無相分第九
須菩提•於意云何•須陀洹能作是念•我得須陀洹果不•須菩提言•不也•世尊•何以故•須陀洹名為入流•而無所入•不入色聲香味觸法•是名須陀洹• 須菩提•於意云何• 斯陀含能作是念• 我得斯陀含果不•須菩提言•不也• 世尊• 何以故•斯陀含名一往來•而實無往來•是名斯陀含•須菩提•於意云何•阿那含能作是念•我得阿那含果不•須菩提言•不也•世尊• 何以故• 阿那含名為不來•而實無不來•是故名阿那含•
須菩提•於意云何• 阿羅漢能作是念• 我得阿羅漢道不•須菩提言•不也•世尊•何以故•實無有法•名阿羅漢•世尊•若阿羅漢作是念•我得阿羅漢道•即為著我人眾生壽者•世尊•佛說我得無諍三昧 •人中最為第一•是第一離欲阿羅漢•世尊•我不作是念•我是離欲阿羅漢•世尊•我若作是念•我得阿羅漢道•世尊則不說須菩提•是樂阿蘭那行者•以須菩提實
無所行•而名須菩提•是樂阿蘭那行•

%20-%20Copy%20-%20Copy.png)
No comments:
Post a Comment