Thursday, April 16, 2026

Kinh Kim Cang - 13. Như Pháp Thọ Trì

Pháp là giáo pháp, là kinh Kim cang Bát nhã ba la mật (kinh trí tuệ rốt ráo). Như pháp thọ trì là y theo kinh mà tu hành. Y theo lời dạy này mà thực hành, thân chứng. Giáo pháp có rất nhiều bởi tùy phiền não và căn cơ chúng sanh có sai biệt, pháp đối trị như thuốc, tùy bệnh mà ứng dụng. Như chúng sanh bị bệnh dâm, nộ, si, Đức Phật khuyên luôn hành trì tứ niệm xứ, giới-định-tuệ để đối trị. Ở trong kinh này, Đức Phật đề cập đến việc thọ trì kinh Kim cang Bát nhã để phá chấp tướng ngã, tướng nhơn, tướng chúng sanh, và tướng thọ giả, phá được bốn tướng ấy mới là Ba la mật-đến được bờ giải thoát thực sự.

Đức Phật dạy, kinh giải thoát tướng này tên là “Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật,” có nghĩa là Pháp trí tuệ siêu việt, bất hoại. Người tu học nên phụng trì kinh này. Kinh là lời dạy của đạo lý, chân lý, người thành tâm phụng trì ắt sẽ ngộ đạo lý Chân không, Vô tướng, và có thể phát sinh đạo lực kim cang bất hoại, trí tuệ chiếu soi vô minh, chứng Pháp như thật, như Phật, là Pháp vô thượng hy hữu.

Đức Phật lại sợ hàng đệ tử chấp trước tên kinh, vong thất tự tánh Bát nhã, nên nói “Bát nhã ba la mật, chẳng phải Bát nhã ba la mật, mới gọi là Bát nhã ba la mật.” Vì sao vậy? Bát nhã ba la mật chỉ là tên gọi, tự tánh vốn không có tên gọi là trí tuệ (bát nhã) hay cứu cánh (Ba la mật). Tự tánh vốn là không, không có sinh hay diệt, không thể dùng danh từ nào để gán cho nó, như khoa học chứng minh rằng vũ trụ không vốn không hoại diệt mà còn đang mở rộng ra bên ngoài với tốc độ nhanh gia tăng mà thời gian không thể xác định. Các nhà khoa học xác định rằng một trọng lực không xác định - được gọi là năng lượng tối - đang đẩy ngược lại vũ trụ trong khoảng trống không gian rõ ràng của nó (Adam Riess, Brian Schmidt và Saul Perlmutter giải Nobel Vật lý năm 2011). Như thế, Kinh muốn nói rằng theo danh tự Kinh mà phụng trì, nhưng đừng chấp nó là thực, bản chất của không là không trụ ở nơi nào cả, huống gì là danh tự.

Bản thể của sự thực là không tướng, cũng không có Pháp để thuyết, trong tâm thanh tịnh, xưa nay vô tướng, nên Đức Như-lai không nói gì cả, và cũng không có kinh hay người giảng nói kinh; ví như có người nói ‘lá mùa thu bay’, khi người kia không nói thì ‘lá mùa thu vẫn bay’, và dẫu người kia có nói thì ‘lá mùa thu vẫn bay’, chẳng phải vì lời nói mà lá mùa thu mới bay, nên Đức Phật nói: “ta chẳng nói gì cả.”

Những ‘vi trần’ (hạt bụi: Particle, vật chất vi tế) trong ba nghìn đại thiên thế giới tạo thành không gian vũ trụ, được cho là vô cùng nhiều, tuy nhiên, vũ trụ quan đối với nhãn tuệ của Đức Phật thì “vi trần chẳng phải là vi trần mới gọi là vi trần, vì sao? Vi trần là vi chất mà mắt thường chúng ta không thể thấy, theo khoa học hiện đại, các hạt vật chất ấy cũng chiếm chưa đến 5% hư không vũ trụ (Bahcall). Bản thể của vi chất ấy cũng vốn là không, không cố định, không tướng trụ, và thế giới vật chất ngoại tại của Ba nghìn đại thiên cõi cũng chẳng phải thế giới như chúng ta thấy qua các căn trần. Để thấy vi trần và thế giới đúng với chính nó, gạt bỏ danh từ, khái niệm về tướng, với tâm không ngã, nhân… chúng ta mới thấy rõ vi trần và thế giới như chính chúng.

Đối với ba mươi hai tướng hảo của Như-lai cũng vậy, Đức Phật nói “ba mươi hai tướng, chẳng phải là ba mươi hai tướng mới là ba mươi hai tướng.” Đức Phật chỉ cho chúng ta cách nhìn ngược lại, phủ định hết tất cả các tướng, thấy các tướng không phải thực tướng, như thế, chúng ta sẽ không còn chấp tướng. Sự từ chối hay không đồng hóa mình trong các tướng mới là trí tuệ siêu việt, giải thoát ảo tưởng về một ngã tướng đang trói chặt chúng ta ngay cả vấn đề giải thoát.

Giả như có ai đó trên con đường đạo, đem thân mạng (nhiều kiếp) như số cát trong song Hằng ra để thực hành hạnh Bố thí (một trong Lục độ của Bồ tát), được cho là nhiều, nhưng Đức Phật vẫn cho rằng không nhiều so với việc thọ trì bài kệ bốn câu như Vô ngã, vô nhân, vô chúng sanh, vô thọ giả tướng… hay vì người giảng nói kinh này, đây mới thực sự là phước nhiều. Tại sao vậy? bố thí thân mạng nhiều kiếp là bố thí vật chất, tài thí, hữu lậu thí, là người bố thí nhưng còn trụ tướng, chưa liễu ngộ tâm không, và mãi còn đau khổ. Bố thí Pháp, là bố thí công đức vô lậu, giúp người và mình liễu ngộ được bản thể là không, giải thoát phiền não, trí tuệ rốt ráo, đây mới là chân thật bố thí, và là thực nghĩa của công đức.

Tương truyền, khi Đức Bồ Đề Đạt Ma từ Thiên Trúc vừa sang Ấn Độ, gặp vua Lương Võ Đế, Vua hỏi: “Trẫm xây hàng nghìn ngôi chùa, hộ trì hàng nghìn Tăng nhơn tu học, như vậy có công đức không?” Tổ đáp: “Không!”

Công đức thọ trì kinh là công đức kiến tánh, thấy mình chẳng phải là mình mới thực sự là công đức cứu cánh. Thấy mình vốn là ‘không’, cho thì vì người chẳng vì ta mới thực sự là bố thí. Thọ trì pháp mà không bị ràng buộc bởi sự thọ trì, không bị ràng buộc bởi pháp mới là người thực sự tự do, như mây trên cao, chẳng gì ngăn ngại.

Thích Nữ Tịnh Quang luận giảng

如法受持分 第十三 

爾時須菩提白佛言•世尊•當何名此經•我等 云何奉持•佛告須菩提•是經名為金剛般若波羅蜜•以是名字•汝當奉持•所以者何•須菩提•佛說般若波羅蜜•即非般若波羅蜜•是名般若波羅蜜•

須菩提•於意云何•如來有所說法不•須菩提白佛言•世尊•如來無所說•須菩提•於意云何•三千大千世界•所有微塵•是為多不•須菩提言•甚多•世尊•須菩提 •諸微塵•如來說非微塵•是名微塵•如來說世界•非世界•是名世界•須菩提•於意云何•可以三十二相見如來不•不也•世尊•不可以三十二相得見如來•何以 故•如來說三十二相•即是非相•是名三十二相•須菩提•若有善男子善女人•以恆河沙等身命布施•若復有人•於此經中•乃至受持四句偈等•為他人說•其福甚多•

No comments:

Post a Comment

New York - Buddhism News

Buddhism Lion's Roar

Buddhism | The Guardian

--------------TRUYỆN NGẮN NỬA HỒN XUÂN

My photo
Garden Grove, CA, United States
Thich Nu Tinh Quang (Phuong Thi Van) is a Vietnamese-American nun. Born in 1969 in Hue, Vietnam, she currently lives in Garden Grove, California. She became a Buddhist nun in 1978. She received teachings from her own Dhamma teacher, Venerable Dieu Khong and was ordained as a Bhikkhuni in 1989. She is the abbot of Dieu Khong Temple in Garden Grove. In addition to being a PhD in religious studies, she is a poet, author, and translator.