Thursday, April 16, 2026

Kinh Kim Cang - 14. Ly Tướng Tịch Diệt

Khi nghe Đức Phật nói rằng “ba mươi hai tướng, chẳng phải là ba mươi hai tướng đó mới gọi là ba mươi hai tướng”, Ngài Tu Bồ Đề bỗng lĩnh ngộ tự tánh “thấy các tướng phi tướng, tức thấy Như lai.” Khi đã thấu hiểu rồi, Ngài chợt buồn và rơi lệ, tán thán Đức Phật với sự vui mừng khôn tả, như một người ở trong rừng núi thâm u nhiều năm và không hay mình ở trong chỗ thâm u đó, một hôm, có người đưa ra khỏi nơi u hiểm tăm tối ấy, lần đầu tiên thấy cảnh vật rộng lớn, tuyệt đẹp, hư không thênh thang, ánh sáng rỡ ràng…vui mừng cảm xúc mà khóc.

Ngài khóc vì bất ngờ thực chứng tuệ nhãn qua lời khai thị của Đức Phật, điều mà Ngài chưa từng nghe ai nói về Không tướng này. Khi thấy rõ vọng tướng, ly tướng và nhận ra được thật tướng tịch diệt của mình một cách sâu sắc, Ngài bạch rằng, nếu có người nghe kinh này, phát khởi lòng tin, là đạt được thực tướng, vì sao? Kinh Vô tướng không dễ nghe, khi nghe kinh phát sinh lòng tin, nơi tự tánh thanh tịnh, ngộ được thực tướng toàn chân, và thành tựu công đức hy hữu bậc nhất. Công đức này vốn vô tướng, nên ‘thực tướng cũng chẳng phải là thực tướng’, bởi ở nơi văn tự thì có kinh, nơi quán chiếu có đối tượng, nhưng nơi thực tướng vốn là Không; đó là khi tâm không trụ tướng, không chấp trước thủ xả, nội tâm bất xuất, ngoại trần bất nhập, nơi tâm rỗng lặng như thế mà thọ trì, thực sự không khó lắm (bất túc vi nan).

Tuy nhiên, với sự thâm tín của ngài với tâm kinh như thế, ngài vẫn e rằng sau năm trăm năm (thời xa Phật-tượng pháp) có người nghe kinh này rồi thọ trì tin hiểu như Ngài cũng chính là đệ nhất hiếm thấy. Vì sao? Đó là người không có tướng ngã, tướng nhơn, tướng chúng sanh và tướng thọ giả, các tướng ấy đã vắng lặng gọi là chư Phật. Năm trăm năm sau và về sau nữa mà vẫn có Chánh pháp, có Phật, đây là việc hy hữu. Tuy vậy, hy hữu nhưng không phải là không, bởi lẽ Phật không phải hiện hữu hay trụ ở nơi hình tướng cụ thể. Phật là người giác ngộ sự thực, căn trần đều thoát, bốn tướng vắng lặng, không còn sợ hãi, đây mới là hy hữu.

Phật chính là hành giả tối thượng đạt Ba la mật; tuy nói Ba la mật đệ nhất (rốt ráo đệ nhất) nhưng chẳng phải Ba la mật, bởi lẽ thân tâm vốn không, từ không mà hình như có, chỉ là huyễn; ngã, nhân đã không thì làm gì có cái ta (ngã) thực và đối tượng (pháp) thực để mà đạt. Cũng thế, trong sáu Pháp lục độ của Bồ tát, khi thực hành Nhẫn nhục Ba la mật, cũng chẳng phải Nhẫn nhục Ba la mật, mới gọi là Nhẫn nhục Ba la mật, có nghĩa là Nhẫn nhục mà không thấy ‘ta’ nhẫn và không thấy có đối tượng nhẫn mới gọi là Nhẫn nhục Ba la mật.

Trong một kiếp quá khứ, Đức Phật làm vị tiên nhơn tu hạnh nhẫn nhục bị vua Ca lợi chặt đứt hết tay chân, trong lúc ấy Ngài không hề hờn giận, ngài đã lìa tướng ngã tướng nhơn, tướng chúng sanh và tướng thọ giả. Như thế mới thấy rằng chỉ có Đức Phật mới là hy hữu. Ở đây cho chúng ta thấy rằng khi bị chặt đứt thân thể, tâm Ngài như hư không, hư không ấy bổn lai vô tướng, ngoài chẳng thấy nhục, trong chẳng thấy nhẫn, tất cả đều quên. Như vậy mới thấy người tu hạnh xả bỏ bốn tướng không hề dễ, ngã tướng đã ăn sâu và đồng hành cùng thân sinh diệt trong không gian và thời gian vô tận, buông xả nó như chặt hết tay chân (tứ chi, tứ tướng), đau đớn hơn vạn lần chấp có. Trong sự đau đớn tột cùng, vị Bồ tát thực hành hạnh Ba la mật thấy cả chúng sanh đều là thân thuộc, không ngoài mình, trong thể không, chúng sanh và mình cùng luân chuyển sanh tử, như thấy mình và chúng sanh là những cỏ cây sinh diệt trên mặt đất (tâm), rõ thế nên không hờn giận, hành bố thí không trụ tướng, phát khởi thệ nguyện tu tập Vô thượng chánh đẳng chánh giác để cứu độ chúng sanh, đây là điều vô cùng hy hữu. Do lịch kiếp Đức Phật đã ngộ được chân không, công phu thuần thục, không phải một sớm một chiều mới thành tựu; do đây, kinh nhắc nhở chúng ta luôn dụng công tu tập quán chiếu, khi công viên quả mãn, nội lực thuần thục mới thành tựu nhẫn nhục Ba la mật; đây cũng chính là công việc tu hành cần thiết để đối trị bệnh chấp tướng dai dẳng và phát sinh lòng sân hận triền miên.

Trong năm trăm đời làm vị tiên nhân tu hạnh nhẫn nhục, với thệ nguyện không chấp tướng, Đức Phật không sinh tâm đối với sắc, thanh, hương, vị, xúc và pháp trần, sanh tâm không trụ trước vào đâu cả, vì nếu tâm có trụ, chính là chẳng phải trụ mà tướng trụ, hay vật chuyển. Vị Bồ tát khi thực hành hạnh bố thí, không trụ vào sắc… bố thí là không thủ tướng, không trụ vào pháp mà bố thí là không thủ pháp tướng. Không thủ pháp, không thủ pháp tướng chỉ vì lợi ích cho chúng sanh mà bố thí, đây mới là thực nghĩa bố thí hay buông xả của Bồ tát hạnh. Thấy các tướng là không phải tướng, tướng vốn là duyên, bản thể của tướng là không, thấy chúng sanh chẳng phải chúng sanh, chúng sanh chỉ là ‘chúng pháp nhi sanh’, là vô thực, như thế, không thấy mình thí, người nhận, đây mới là Bố thí không chướng ngại, thanh tịnh tuyệt đối.

Từ nơi bản thể vắng lặng, ly tướng mà nói, nên lời của Đức Như lai là chơn ngữ, thật ngữ, như ngữ, bất cuồng ngữ (không dối người), không sai khác đối với chân lý, pháp mà Ngài nói là “không thực và không hư”; không thực là không thủ pháp, không chấp có; không hư là không thủ phi pháp, không chấp không; đối với ‘có, không’ mà không trụ thì vô ngại, nhưng nếu chấp tướng mà bố thí như người vào chỗ tối tăm, chẳng thấy gì, cũng chẳng đắc gì, ngoài cái ngã tướng ngày càng to lớn mà thôi.

Tâm bố thí không trụ tướng, không chấp ngã là tâm trí tuệ rộng lớn, ở nơi không mà thấy rõ, như người có mắt sáng, và có ánh sáng mặt trời (dụng của tâm) chiếu soi, thấy rõ được các hình sắc, là lúc bốn tướng tiêu vong; ngay khi vừa thực hành là tánh quang kim cương tứ chiếu, rỗng rang chân không, soi rõ tất cả hình sắc, như bầu trời trong sáng, soi rõ vạn vật.

Người đọc tụng kinh này, một lúc nào đó, như ngài Huệ Năng, thể nhập được trí tuệ của Phật, nghĩa là Như lai thấy rõ người ấy thành tựu công đức kiến tánh, vô lượng vô biên. Công đức ấy ở nơi tâm không, là sự trở về với không một cách viên mãn, một sự từ bỏ chấp thủ không phải dễ, một sự thực về bổn lai‘không’ mà hiếm ai có thể tin được; khi đã đến nơi này rồi, chẳng có gì ngoài tâm tịch lặng hiện tiền, nhân ngã tiêu vong.

Thích Nữ Tịnh Quang luận giảng

離相寂滅分第十四 

爾時須菩提•聞說是經•深解義趣•涕淚悲泣•而白佛言•希有世尊•佛說如是甚深經典•我從昔來•所得慧眼•未曾得聞如是之經•世尊•若復有人•得聞是經•信 心清淨•即生實相•當知是人•成就第一希有功德•世尊•是實相者•即是非相•是故如來說名實相•世尊•我今得聞如是經典•信解受持•不足為難•若當來世• 後五百歲•其有眾生•得聞是經•信解受持•是人即為第一希有•何以故•此人無我相•無人相•無眾生相•無壽者相•所以者何•我相即是非相•人相•眾生相• 壽者相•即是非相•何以故•離一切諸相•即名諸佛•

佛告須菩提•如是如是•若復有人•得聞是經•不驚不怖不畏•當知是人•甚為希有•何以 故•須菩提•如來說第一波羅蜜•即非第一波羅蜜•是名第一波羅蜜•須菩提•忍辱波羅蜜•如來說非忍辱波羅蜜•是名忍辱波羅蜜•何以故•須菩提•如我昔為歌 利王割截身體•我於爾時•無我相•無人相•無眾生相•無壽者相•何以故•我於往昔節節支解時•若有我相•人相•眾生相•壽者相•應生瞋恨•

須菩提•又念過去於五百世•作忍辱仙人•於爾所世•無我相•無人相•無眾生相•無壽者相•是故須菩提•菩薩應離一切相•發阿耨多羅三藐三菩提心•不應住色生 心•不應住聲香味觸法生心•應生無所住心•若心有住•即為非住•是故佛說菩薩心•不應住色布施•須菩提•菩薩為利益一切眾生故•應如是布施•如來說一切諸 相•即是非相•又說一切眾生•即非眾生•須菩提•如來是真語者•實語者•如語者•不誑語者•不異語者•須菩提•如來所得法•此法無實無虛•須菩提•若菩薩 心住於法•而行布施•如人入闇•即無所見•若菩薩心不住法•而行布施•如人有目•日光明照•見種種色•須菩提•當來之世•若有善男子善女人•能於此經受持 讀誦•即為如來以佛智慧•悉知是人•悉見是人•皆得成就無量無邊功德•

No comments:

Post a Comment

New York - Buddhism News

Buddhism Lion's Roar

Buddhism | The Guardian

--------------TRUYỆN NGẮN NỬA HỒN XUÂN

My photo
Garden Grove, CA, United States
Thich Nu Tinh Quang (Phuong Thi Van) is a Vietnamese-American nun. Born in 1969 in Hue, Vietnam, she currently lives in Garden Grove, California. She became a Buddhist nun in 1978. She received teachings from her own Dhamma teacher, Venerable Dieu Khong and was ordained as a Bhikkhuni in 1989. She is the abbot of Dieu Khong Temple in Garden Grove. In addition to being a PhD in religious studies, she is a poet, author, and translator.