Thursday, April 16, 2026

Kinh Kim Cang - 15. Công Đức Trì Kinh

Phần này, kinh Kim Cang so sánh công đức xả thân bố thí và công đức tin tưởng thọ trì kinh.

Đức Phật bảo Ngài Tu Bồ Đề rằng nếu có người ngày ba buổi đem thân mạng mình ra bố thí nhiều như cát sông Hằng, trong vô lượng trăm nghìn ức kiếp như thế phước đức cũng không bằng người tin tưởng, thọ trì, ghi chép và đọc tụng kinh Kim cang, tại sao vậy? 

-Từ thiện, bố thí là một loại đức độ hy sinh bản thân cho người khác, cho chúng sinh; sự hy sinh ấy trải qua một quá trình dài không thể kể, chịu đựng những điều mà người khác không thể chịu đựng, hẳn là phước đức vô cùng vĩ đại. Tuy nhiên, sự vĩ đại này đối với Đức Phật xem ra không bằng tâm tin tưởng, thọ trì kinh, bởi lẽ, sự trì kinh công đức tối thắng hơn đem thân mạng ra bố thí, công đức trí tuệ vô trụ lớn hơn tất cả các công đức khác, tâm đức của người lìa tướng mới thực sự lớn. Nếu như đem thân mạng ra bố thí cùng với sự thọ trì tin tưởng kinh thì ngã-pháp tiêu vong, công đức lại càng lớn hơn, thật hy hữu. Nếu chỉ bố thí mà không lìa ngã tướng, nhân tướng, hành xử ở trong thức tình, phiền não, như rác bẩn ẩn náu ở dưới lòng sông làm cho nước trong con sông vẫn đục, không soi tỏ được hiện ảnh; Do đây, Đức Phật nói, kinh này có vô biên công đức, không thể nghĩ bàn, không thể suy lường được.

Ở nơi bản thể không thể nghĩ bàn, không thể suy lường này, Đức Như lai vì người phát tâm lớn (tâm Đại thừa, không nên hiểu về Tông phái), vì người phát tâm tối thượng mà nói, vì sao? -Kinh Kim Cang là kinh lớn, kinh vô thượng, kinh chỉ thẳng thực tính, chỉ có trình độ đại cơ và thượng cơ mới có thể lãnh hội, nên Ngài mới vì họ mà nói.

Ở trên tướng phần (chấp tướng, còn nhân ngã tướng) thì gọi là tiểu thừa pháp, phá được tướng phần mà còn ở trong kiến phần (pháp tướng) thì gọi là đại thừa pháp. Người chấp ngã tướng, nhân tướng, không biết pháp ngã tướng, luận ngã tướng; người tuy phá được tướng phần, nhưng kiến phần chưa phá, pháp ngã chấp vẫn còn, vì pháp chấp vẫn còn,trụ ở tứ kiến, không thể thâm hiểu lý Bát nhã, không thể nhận ra được chân tế của bản thể, phần tự lợi chưa xong, phần bố thí lợi tha cứ làm hoài và nhiều đến vô lượng vô biên cũng chẳng tới đâu cả.

Kim cang Bát nhã là kinh chân thật, chỉ rõ bổn tính diệu dụng của chúng sinh, thể tính tối thượng của chúng sanh, và chỉ có hàng thực hành tối thượng thừa mới có thể lĩnh ngộ, người sơ cơ chấp tướng không thể tin hiểu. Như khi nhiều người thấy và nói mặt trời mọc và mặt trời lặn, đối với những người học rộng, những nhà khoa học thì quả đất xoay quanh mặt trời chứ không có hiện tượng mọc và lặn. Cũng thế, Như lai nói kinh cho người phát khởi đại tâm và người căn tánh tối thượng, thuyết minh diệu dụng của chân tâm, trình bày trí tuệ chân không khiến cho hành giả tin tưởng, thọ trì và vì người mà giảng nói. Với những người này, Đức Phật cho rằng công đức vô biên, không ngằn mé.

Người thọ trì kinh này thuần thục, đến một lúc nào đó bản ngã vắng lặng, an nhiên, nội tâm thanh tịnh, chân thật sẽ phát hiện được con người mình chẳng có chi cả, tất cả chỉ là giả tướng ngoài bản thể không vắng lặng, bất chợt minh tâm, sáng tánh, không còn sợ hãi bất cứ điều gì vì chỉ thấy tất cả là không, nhân đây, vì người giảng nói, chia sẻ, điều này cũng chính là sự cúng dường tâm, thì tâm tâm tức là Phật Phật, không phải tìm thân Phật bên ngoài, đây là cảnh giới của đức hạnh dụng công vô tướng, người thành tựu đức hạnh hay công đức này mới có thể đảm nhận hay gánh vác chánh pháp vô thượng của Phật, không phải vì ngã tướng, nhân tướng mà làm.

Kinh Kim cang là tiếng nói của lời mà không lời, tiếng nói của hư vô sâu thăm thẳm, nên Đức Phật nói rằng sự hiện hữu của kinh bằng sự hộ trì của hàng Hộ pháp (Thiên, nhơn, A-tu-la…) cung kính, lễ lạy, tôn thờ nhằm xác tín rằng kinh này không phải là kinh ‘giả’ hay kinh ‘dụ’, đây là chân kinh, kinh nói thẳng nói thật, người tinh tấn trì kinh là người luôn vận dụng trí tuệ của chính mình để hiểu về một sự thực… đến khi nội lực thâm hậu, thành tựu công đức, đắc tri kiến bất kiến thì sự thực được hiển lộ: không thấy mình là gì cả ngoài sự giải thoát về các giả tướng. Một khi đã liễu kinh, trực ngộ được thực tướng của tâm và pháp là không, con người mới thoát khỏi những ao ước, đau khổ, và sợ hãi nghìn đời.

Thích Nữ Tịnh Quang luận giảng

持經功德分第十五

須菩提•若有善男子善女人•初日分•以恆河沙等身布施•中日分•復以恆河沙等身布施•後日分•亦以恆河沙等身布施•如是無量百千萬億劫•以身布施•若復有人 聞此經典•信心不逆•其福勝彼•何況書寫受持讀誦•為人解說•須菩提•以要言之•是經有不可思議•不可稱量•無邊功德•如來為發大乘者說•為發最上乘者說 •若有人能受持讀誦•廣為人說•如來悉知是人•悉見是人•皆得成就不可量•不可稱•無有邊•不可思議功德•如是人等•即為荷擔如來阿耨多羅三藐三菩提•何 以故•須菩提•若樂小法者•著我見•人見•眾生見•壽者見•即於此經•不能聽受讀誦•為人解說•須菩提•在在處處•若有此經•一切世間天人阿修羅•所應供 養•當知此處•即為是塔•皆應恭敬•作禮圍繞•以諸華香•而散其處•

No comments:

Post a Comment

New York - Buddhism News

Buddhism Lion's Roar

Buddhism | The Guardian

--------------TRUYỆN NGẮN NỬA HỒN XUÂN

My photo
Garden Grove, CA, United States
Thich Nu Tinh Quang (Phuong Thi Van) is a Vietnamese-American nun. Born in 1969 in Hue, Vietnam, she currently lives in Garden Grove, California. She became a Buddhist nun in 1978. She received teachings from her own Dhamma teacher, Venerable Dieu Khong and was ordained as a Bhikkhuni in 1989. She is the abbot of Dieu Khong Temple in Garden Grove. In addition to being a PhD in religious studies, she is a poet, author, and translator.