Đoạn này Đức Phật nói về phước đức bố thí tài vật và phước đức thọ trì và giảng giải kinh Kim cang.
Như có người dùng bảy thứ báu (vàng, bạc, lưu ly, xa cừ, mã não, san hô và hổ phách) đầy khắp cả Tam thiên đại thiên thế giới để thực hành bố thí được xem là nhiều lắm, đối với Đức Phật, nó nhiều bởi vì ‘thể tính của việc bố thí ấy là phi phước đức’.
Đem hết tài sản quí giá để ban tặng cho người là đại phước
đức, chất đầy của cải nhiều như ba nghìn cõi nước mà cho thiên hạ mới được xem
là ‘nhiều’, nhiều nhưng không phải thật phước đức (phi phước đức): Đây là điều
mà Đức Phật muốn nhắc đến cái dụng tâm của người khi thực hành hạnh bố thí.
Tất cả các pháp là tướng của tâm, nơi tâm mà thấy có vật,
nơi tâm mà thấy có nhiều hay ít. Thể tính của tâm là chẳng phải vật cụ thể (phước
đức), do đó nơi tính thể này phát sinh công đức vô lượng, chứ không phải nhiều ở
nơi tướng thể. Thử nhìn sa mạc rộng lớn thênh thang, biển cả mênh mang vô tận vì
ở trên nó không có nhà cửa, cây cối…bám rễ ở trên đó. Cõi ba nghìn thế giới cũng
là ước lượng từ tư duy, cái nhiều của ba nghìn cõi sẽ không là nhiều với bốn
nghìn hay năm nghìn cõi khác, nhiều ở trên số tính tương đối chứ không phải là
thực chất. Khi ta thấy cái nhiều và nhận ra nó là không thực, chỉ là giả tướng,
đó là thực nghĩa của phước đức từ vô tướng. Tương truyền, một bà già chỉ cúng dầu
ít oi với một ngọn đèn nhỏ nhoi bằng tiền đi ăn xin của mình, không cầu phước đức,
chỉ mong tâm được giác ngộ, sáng đạo, vậy mà ngọn đèn ấy thắp mãi suốt đêm, dù
gió lớn cũng không thể tắt. Ngọn đèn của bà lão ăn xin là ánh sáng của trí tuệ,
ánh sáng của tâm an lạc, không phải là cái nhiều của tướng phước đức chịu sự
sinh diệt tương tục.
Nếu hiểu phước đức theo nghĩa là vật chất cụ thể thì hữu hình
hữu hoại, vẫn chịu sự sinh diệt và giới hạn; thân là vô ngã tướng, nhơn cũng vô
ngã tướng, nên phước đức là không thực. Không trụ ở nơi tướng ngã, nhơn của việc
bố thí thì ‘nhiều’ mới thật là ‘nhiều’ trong nghĩa không so sánh, mà nhìn thấy
chúng như là.
Tuy nhiên, với người bố thí nhiều như trên, kinh cho rằng
không bằng người thọ trì bốn câu kệ trong kinh này (như: Bất thủ ngã tướng, bất
thủ nhơn tướng, bất thủ chúng sanh tướng, bất thủ thọ giả tướng…) hay giảng bày
cho người khác hiểu thì phước đức này lại lớn hơn. Vì sao? Đức Phật vẫn phải so
sánh như thế. Ở nơi nghĩa tương đối để nói đến cái tuyệt đối như một phương tiện
cuối cùng. Hành giả một khi đã thể nhập được tâm vô ngã, người ấy không còn đau
khổ vì những phàm niệm, và nơi tâm đức này mà vì người giải nói nghĩa lý của chân
kinh là từ tâm đại bi, muốn giúp người thoát hẳn khổ đau vì chấp ngã. Khi tâm trụ
ở tướng ngã, làm tất cả những việc được cho là chí thiện cũng không thoát khỏi
khổ đau. Nơi ‘không’ tâm, như ánh sáng đêm trăng (không có đám mây đen (bản ngã)
che khuất) tỏa chiếu mà không chướng ngại. Đức Phật và Pháp của Ngài cũng từ nơi
kinh (tâm) ‘không’ này mà xuất phát.
Nếu chúng ta y nơi pháp này mà tu và hành thì mới có phát
sinh công đức: giác ngộ thể tính ‘phi công đức’, làm mà không vướng, thấy Phật
Pháp chẳng phải là Phật Pháp, thoát hẳn tâm chấp về nó thì mới thực là thấy Phật
Pháp.
Thích Nữ Tịnh Quang luận giảng
依法出生分第八
須菩提• 於意云何•若人滿三千大千世界七寶•以用布施•是人所得福德•寧為多不•須菩提言•甚多•世尊•何以故•是福德•即非福德性•是故如來說福德多•若復有人•於此經中•受持乃至四句偈等•為他人說•其福勝彼•何以故•須菩提•一切諸佛•及諸佛阿耨多羅三藐三菩提法•皆從此經出•須菩提•所謂佛法者•即
非佛法•是名佛法•

%20-%20Copy%20-%20Copy.png)
No comments:
Post a Comment