Đoạn trước kinh nói cứu cánh là Vô ngã, đoạn này kinh xác minh cái thấy với sự thực chứng Vô ngã khi Ngài Tu Bồ Đề nhận ra Đức Như-lai ‘có’ đủ Ngũ nhãn, Phật và chúng sanh không sai biệt; ở đây, không phải là cái thấy của cái ‘vô’ của đoạn diệt, hay cái thấy thuộc về ‘ngoan không’.
Trong Ngũ nhãn, ngoại trừ ‘nhục nhãn’ là con mắt thịt của chúng sanh, Thiên nhãn, Huệ nhãn, Pháp nhãn và Phật nhãn là con mắt thần thông và trí tuệ của hàng tuệ giác, Bồ tát và Phật. Tuy nhiên, nếu ai tu tập trí tuệ đều có đủ Ngũ nhãn thanh tịnh, siêu thoát, giải thoát viên mãn.
Đức Phật là
Bậc giác ngộ, giải thoát viên mãn, không có nghĩa là Ngài mất đi con mắt
‘trần’, mắt thịt (nhục nhãn); ở trong tướng mắt hữu hạn ấy, trí tuệ thấy hiểu
của Phật nhãn là vô hạn. Như thế, để hiểu rằng Phật không lìa tướng chúng sanh,
và chúng sanh cũng ở trong thể tánh trí tuệ của Phật. Phật và chúng sanh là
đồng thể, ở nơi sự đồng thể này mà khởi đại bi tâm; nơi không tánh, vô ngã mà
sinh ra diệu dụng.
Trong cái
không vời vợi ấy cũng chính là bản thể hằng hữu của vật chất lưu chuyển trong
vũ trụ, là đối tượng của cái thấy; tuy nhiên, cái thấy của chúng sanh khác với
cái thấy của Phật, cái thấy của người mê khác với người tỉnh, cũng như cái thấy
của người chấp thủ khác với cái thấy của người không chấp thủ.
Như-lai ở trên
hiện tượng thấy sự vật qua Ngũ nhãn, thấy cái ‘có’ như thấy cát ở trong sông
Hằng. Chúng ta cũng thấy cát trong một con sông hằng ‘nhiều’ vô lượng, Đức Phật
thấy ‘nhiều hơn’, nghĩa là thấy cát ở vô lượng con sông Hằng, và cõi Phật cũng
‘nhiều’ như thế, Đức Phật không bị cái thấy giới hạn ở ‘một’trong nhiều, cái
thấy của trí tuệ là cái thấy vô hạn. Mặt khác, ở trong cái đồng thể nhục nhãn:
mắt chúng sanh và mắt Phật trên hiện tượng ‘thấy’ ấy, là cái ‘biết’khác biệt.
Cái biết ‘nhiều’ của Phật là biết rõ tất cả tâm niệm của hết thảy chúng sanh,
đây có nghĩa rằng Phật không tách rời chúng sanh, Phật và chúng sanh đồng một
thể. Bao nhiêu tâm niệm của chúng sanh Phật đều biết rõ chúng là vọng, là theo
duyên khởi, vọng nhiều như cát, nhiều mà chẳng khác, và cùng một thể, thể ấy
chẳng có chi ngoài chân không mà hiện hữu.
Vì sao Phật
nói “tâm chẳng phải tâm, đó mới gọi là tâm”?-Tâm (nhận thức, phân biệt) vốn vô
ngã-nhân, không có tự tánh độc lập, chỉ vì chấp huyễn tướng mà tưởng như thật, bản
thể của tâm là không, đối với quá khứ, tương lai và hiện tại chúng ta không thể
trụ trước nó: ”Quá khứ tâm bất khả đắc, hiện tại tâm bất khả đắc, vị lai tâm
bất khả đắc.”
Tương truyền,
Thiền Sư Đức Sơn, thông đạt tánh tướng chư kinh, thường diễn giảng kinh Kim
Cang; một hôm đi hành cước, sáng sớm ghé quán cơm ở ven đường của một lão bà
bà, Ngài gọi bà lão dọn bữa điểm tâm sáng, lão bà bán cơm hỏi: “Nghe danh Ngài
giảng kinh Kim Cang hay lắm, trong kinh có nói tâm không có điểm quá khứ, không
có điểm hiện tại, không có điểm tương lai, chẳng hay Đại sư muốn điểm tâm nào.”
Đức Sơn cấm khẩu không đáp được và bỏ đi. Nhân đây nỗ lực tu tập, và sau đó
chứng ngộ.
Điều mà kinh
muốn nói đến là vấn đề tâm và thời gian. Sự biết rõ của Phật về tâm là thấy nó
không phải chính nó, khác với đa phần chúng ta thấy nó rất thực bởi vì ảo giác
của chúng ta quá nhiều đối với tự ngã. Thời gian chỉ hiện hữu khi ký ức hiện
diện, không gian của tâm như bầu trời, tự tánh của nó không có sắc màu của thời
gian, chỉ do vọng niệm mà tưởng như ‘có’ hay ‘được’. Một cái đồng hồ treo tường
chỉ ra điểm hiện tại là 5 giờ 30, kỳ thực thời gian luôn tích tắc và chuyển
động nhưng ta không thấy được. Hiện tại luôn ‘hằng chuyển’ nhưng chúng ta không
thể phát hiện được sự chuyển động tuyệt đối; sự thực, thời gian luôn trôi về
phía trước, không bao giờ cố định.
Theo lý thuyết
nghiên cứu của Einstein, khi so sánh với đồng hồ nguyên tử ground-based - tại
Đài quan sát U.S. Naval ở Washington, DC - đồng hồ trên không của Hafele và
Keating đã chậm hơn khoảng 40 nano giây sau khi chuyển về phía Đông, và nhanh
hơn khoảng 275 nano giây sau khi di chuyển theo hướng Tây với nghiên cứu khoa
học năm 1972 của họ trên tạp chí Science. Thật đáng kinh ngạc, các đồng hồ đã
thực sự tạo ra sự khác biệt khi di chuyển về phía Đông và phía Tây trên khắp
thế giới - chậm hơn khoảng 59 nano giây và nhanh hơn 273 nano giây, tương ứng
khi so sánh với Đài quan sát Hải quân Hoa Kỳ. Như thế, điều này đã chứng minh
rằng Einstein đã đúng với lý thuyết về sự giãn nở thời gian của ông, và thời
gian thực sự dao động trong toàn vũ trụ.
Thời gian giao
động, nên tâm cũng không có điểm để trụ, để đắc. Nếu tâm có đắc gì đó chỉ là ảo
tưởng. Trong các thí nghiệm vật lý hạt, các hạt ngẫu nhiên sinh ra từ chân
không, và vì vậy không có khả năng vũ trụ trở nên tĩnh hoặc sự biến mất thời
gian, tất cả đều đang chuyển động, thay đổi, kể cả ánh sáng.
Như thế, tâm
từ chân không, không có tự ngã duy nhất của nó ở trong quá khứ, hiện tại hay
tương lai, tâm ‘bổn lai vô nhất vật này’ là bản thể của tất cả chúng sanh, cùng
Phật không khác.
Không trụ ở
tâm, không chấp tâm, không có ý niệm về thời gian thực hữu đối với tâm, đó là
người thực sự giải thoát tư tưởng về một bản ngã thường tại, hay cá biệt từ
những chúng sanh khác.
Thích Nữ Tịnh Quang luận giảng
一體同觀分第十八
須菩提•於意云何•如來有肉眼不•如是•世尊•如來有肉眼•須菩提•於意云何•如來有天眼不•如是•世尊•如來有天眼•須菩提•於意云何•如來有慧眼不•如 是•世尊•如來有慧眼•須菩提•於意云何•如來有法眼不•如是•世尊•如來有法眼•須菩提•於意云何•如來有佛眼不•如是•世尊•如來有佛眼•須菩提•於 意云何•恆河中所有沙•佛說是沙不•如是•世尊•如來說是沙•須菩提•於意云何•如一恆河中所有沙•有如是沙等恆河•是諸恆河所有沙數佛世界•如是寧為多 不•甚多•世尊•佛告須菩提•爾所國土中 • 所有眾生•若干種心•如來悉知•何以故•如來說諸心•皆為非心•是名為心•所以者何•須菩提•過去心不可得•現在心不可得•未來心不可得•

%20-%20Copy%20-%20Copy.png)
No comments:
Post a Comment