Đoạn thứ 20 kinh nói lìa sắc lìa tướng là thuộc phá tướng phần. Tướng phần là bàn về sắc, kiến phần là bàn về tâm. Khi hành giả phá được tướng phần, hàng phục vọng tâm, thời thời không vọng lục trần duyên ảnh, không còn bị ngăn ngại bởi pháp trần, rốt ráo vô ngã cũng là phá được kiến phần.
Ngài Tu Bồ Đề đã đắc trí tuệ nhân không, biết ba mươi hai tướng phi tướng, không lầm bởi tướng, minh đắc Pháp thân biện sự, lìa sắc lìa tướng, minh đắc phi tướng tức phá tướng, kiến tướng phi chân, nhân-pháp đều không, sắc-tâm buông xả, tức ngộ phi không phi sắc, phi nhất phi nhị lý.
Hai pháp
sắc-tâm ấy, sắc (tướng) do duyên mà có; tâm nương sắc mà khởi, nếu ly hay trụ đều
không thể. Nếu nói ly tướng ngoài sắc thân thì không thế gọi là Pháp thân, nếu
nói tức tướng (trụ tướng) thì người thuyết pháp không đồng với sắc thân ấy. Cũng
như không thể ly âm để thấy dương, hay ly dương để thấy âm vậy.
Chân chánh pháp thân không thể dùng tức tướng để thấy cũng không thể dùng ly tướng để thấy. Tức
tướng kiến nghĩa là trụ tướng, ly tướng kiến nghĩa là đoạn diệt.
Nếu tức tướng mà không trụ tướng, ly tướng mà không lạc vào đoạn diệt, ở
trong tướng mà ‘ngộ kỳ phi tướng’, ở trong sắc mà ‘ngộ kỳ phi sắc’ đó là diệu lý
chơn tri ly tướng ly sắc.
Nên, ở trong thân tướng mà phi thân tướng ấy tức thuyết pháp mà phi thuyết
pháp. Không có người thuyết (năng thuyết), cũng không có pháp được thuyết (sở
thuyết). Ngôn từ vốn do duyên, người thuyết vốn vô ngã, pháp vốn như thị, dù có
thuyết hay không thì trời vẫn bốn mùa mưa nắng, vạn vật cũng sanh, trụ, dị và
diệt, nói chỉ là tạm nói, là phương tiện trong một hoàn cảnh nào đó mà nói. Đối
với pháp nghi, đây chính là dùng phi pháp nói pháp. Nếu tức pháp “cho rằng Như-lai
có thuyết pháp là hủy báng Phật, không hiểu nghĩa lý của Phật.” Đức Phật nói vậy
mà không phải y như vậy, ‘ngôn tại ý ngoại’, tuy là năng thuyết, nhưng ‘khả tri
ư pháp, ưng vô sở trụ’, ý chỉ tương đối mới gọi là thuyết pháp, hiểu được tính
thay đổi và phi nhất phi dị của năng và sở đây gọi là thuyết pháp nhưng phi
thuyết pháp. Vậy thì chúng sanh đời sau làm sao hiểu được, tin được lý thuyết này?
Khi thuyết và sở thuyết đã là vô ngã, vô nhân thì chúng sanh và ngã tính tồn tại
của chúng sanh (thọ giả) cũng không thật, tin hay không thì không còn là vấn đề
của chân lý.
Mặt khác, để phá nghi chấp về chúng
sanh kinh nói ‘phi chúng sanh, phi bất chúng sanh’. Khi chủ thể nói đã là không
thì đối tượng nghe hẳn nhiên cũng chẳng có. Tuy nhiên, sự phủ định cũng không
phải là sự tuyệt đối của sự phủ định, nếu ta chạm đến sự tuyệt đối thì không còn
gì để nói, chỉ là nơi ‘tâm hành xứ diệt’. Do đó, ‘vô pháp khả thuyết’(phủ định)
gọi là ‘thị danh khả thuyết’ (xác định); ‘bỉ phi chúng sanh’(phủ định) gọi là‘phi
bất chúng sanh (thị danh chúng sanh)’(xác định), hoặc ‘khả tri diệt độ chúng
sanh’(xác), thật vô chúng sanh đắc diệt độ’(phủ).
Ở trong nghĩa ‘phi’, Đức Phật
thuyết là giả thuyết, từ nơi chân không diệu lý, bổn lai vô pháp; với nghĩa
‘phi bất’, không ngoài nghĩa diệu dụng, phá trừ tà kiến của chúng sanh.
Sự phủ định ‘phi chúng sanh’ cũng
mang ý nghĩa khác là xác định Phật tính của chúng sanh, một chúng sanh chưa giác
ngộ và giải thoát tuyệt đối nên gọi là chúng sanh. Nếu đã liễu ngộ, siêu xuất tánh
tướng chúng sanh, ngay đây lập địa thành Phật.
Chân pháp không ở trên ngôn từ, nên thuyết và sở thuyết là ‘vô’ mà cũng ‘phi vô’. Trên con đường trở về, hành giả không thể trụ vào đâu để nắm bắt được chân lý tối hậu, chân lý như là ánh sáng và chúng sanh là những khoảng chân không, xác định hay trụ vào một điểm nào trong ánh sáng chân không trên mặt phẳng của hiện tượng là điều không thể, chỉ là sự giải thoát khỏi ngôn từ để thấy được những gì khôn cùng và mầu nhiệm, không đồng nhất mình với gì cả, ngay cả thân phận ‘chúng sanh’- của chính mình.
Thích Nữ Tịnh Quang luận giảng
非說所說分第二十一
須菩提•汝勿謂如來作是念•我當有所說法•莫作是念•何以故•若人言如來有所說法•即為謗佛•不能解我所說故•須菩提•說法者•無法可說•是名說法•爾時慧
命須菩提白佛言•世尊•頗有眾生•於未來世•聞說是法•生信心不•佛言•須菩提•彼非眾生•非不眾生•何以故•須菩提•眾生眾生者•如來說非眾生•是名眾生•

%20-%20Copy%20-%20Copy.png)
No comments:
Post a Comment