Phần trước Kinh nói về ‘chúng sanh phi chúng sanh’, Phần này kinh nói rằng Phật cũng không có Pháp để ‘đắc’. Ở chỗ Vô đắc này, kinh muốn khai mở diệu pháp-tuệ không, vốn là gia bảo của tâm, vô đắc vì vô tướng, thực tướng phi tưóng, xưa nay không mất làm gì lại gọi là được (hữu đắc), nếu nói có sở đắc (chỗ được) đều là chấp thức tâm mà khởi vọng, nên năng sở chưa có thể phá.
Những phần trước, kinh nói là đắc phước huệ, từ nhân
bố thí, đắc quả bố thí, đây chính là tướng phần biên sự. Nay nói vô đắc, gọi là
phước đức tánh mà phước đức quả không thể so sánh với nó ở trong trạng thái
không. Phước đức quả thì có tướng có thể thấy được, phước đức tánh là pháp ‘vô tướng khả kiến’, là pháp ‘vô vi khả đắc’; trong cái vô vi hay
vô tướng này không có đối tượng của ngoại tại hay hữu thể. Không chỉ là vô vi
pháp khả đắc, nhưng ‘năng đắc’ cũng không.
Về phương diện tướng phần là sở đắc, kiến phần là
năng đắc, năng sở đều phá, không thấy chúng sanh là sở độ, không thấy tự mình
là năng độ, không thấy có chút pháp gì để đắc, điều mà Đức Phật đắc chỉ là
‘không’ nên mới ‘chứng’ đắc vô thượng, không gì hơn. Ở đây cũng gọi là vô lượng vô số chúng sanh là ‘ngã độ
giả’, thật vô chúng sanh đắc diệt độ giả.
Kinh Kim cang cho rằng nhất thiết câu không, ở phần
này, đi sâu vào vấn đề quả Vô thượng bồ đề (chánh giác) thực không có pháp khả
đắc. Ngài Tu Bồ Đề, ngộ được lý sâu nhiệm này, nhân lại đương cơ trực hỏi như
lai đắc bồ đề, cứu cánh chân vô sở đắc? Ở đây, tuy giống nghi vấn, nhưng là chỗ
liễu ngộ, gợi ý vong ngôn, rõ thông vô sở đắc mới là chân đắc, nghĩa là: vô đắc
mà cũng vô bất đắc mới là chân đắc. Như khi nhìn một đám mây bay ngang bầu trời
chúng ta không thể chạm tới (vô đắc) làn mây ấy, cũng không thể nói rằng đám
mây ấy là hoàn toàn không (vô bất đắc). Đây là luận lý triệt tiêu hai đặc tính
có và không của tư tưởng, phạm trù của chấp trước khái niệm như thực thể, dẫn
đến phiền não.
Kinh nói Như lai vô pháp đắc
bồ đề, diệt độ chúng sanh, thật vô chúng sanh đắc diệt độ, đạo lý nhắm đến là vô
pháp trụ mà hành đạo. Lý vô đắc rất tinh tế, nếu hiểu
được vô ngã, xả ly được sở tri chướng thì hành giả mới nhận chân được vô đắc,
thấy mình không là gì cả, chỉ là hư huyễn. Khi Sơ tổ đến Đông độ phá lục tông,
Ngài đã ‘trực chỉ nhân tâm’ khi nói đến vô đắc: Đắc (đạt) vốn đã không phải đắc, (chỉ
là) đắc cái ‘đắc vô đắc’, đã không chỗ đắc rồi, thì nơi nào mà đắc được. (祖曰:得既非得,得得無得,既無所得,當何得得). Phần này, kinh muốn chúng ta buông luôn hai chữ chấp
truớc là ‘vô đắc’, trong diệu pháp thường tại, không bị lạc vào ngữ ngôn văn tự,
trò chơi ngụy trang của chữ viết đã bẫy chúng ta đi quá xa sự thật, chấp trước các
khái niệm là chúng sanh tri kiến, càng tìm cầu trí tuệ thì càng xa vời.
Vô thượng bồ đề là bổn lai thanh tịnh trí tuệ, là khi
tâm vắng lặng, ngoài niệm đối đãi được mất… Khi tâm đã yên, như sóng đã lặng dù
chẳng ngoài hữu pháp khả đắc nhưng không luân lưu một pháp ngoài bầu trời lồng
lộng mới thông vạn pháp, mới là Vô
thượng bồ đề. Hữu pháp khả đắc là pháp còn ràng buộc bởi ngoại tại, vô pháp khả
đắc mới là giải thoát đối đãi.
Khi Phật bảo Tu bồ đề ở nơi
vô thượng chánh đẳng chánh giác không có sở đắc, vì có đắc (được) tức có thất
(mất), bất cứ gì đều có đắc-thất là ngoại vật, không phải tự tánh vậy. Tự tánh
bồ đề, mỗi chúng sanh đều đầy đủ, đâu có thể nói đắc, không có điểm gì gọi là đắc
thì gọi là Vô thượng bồ đề. Chỉ cần hiểu rằng mình vốn là thanh tịnh trạm
nhiên, những điều bên ngoài chẳng tác động đến chân tánh vô thượng ấy; khi
buông hết tất cả nhận thức phân biệt của con người, đó là lúc đắc được Niết-bàn
Vô thượng: Đắc cái vô đắc, cũng không để cái tri kiến ‘vô đắc’ ấy chập chờn như
một dư ảnh.
Thích Nữ Tịnh Quang luận giảng
須菩提白佛言•世尊•佛得阿耨多羅三藐三菩提•為無所得耶•佛言如是如是•須菩提•我於阿耨多羅三藐三菩提•乃至無有少法可得•是名阿耨多羅三藐三菩提•

%20-%20Copy%20-%20Copy.png)
No comments:
Post a Comment