Sunday, June 21, 2026

Kinh Kim Cang - 22. Vô Pháp Khả Đắc

Phần trước Kinh nói về ‘chúng sanh phi chúng sanh’, Phần này kinh nói rằng Phật cũng không có Pháp để ‘đắc’. Ở chỗ Vô đắc này, kinh muốn khai mở diệu pháp-tuệ không, vốn là gia bảo của tâm, vô đắc vì vô tướng, thực tướng phi tưóng, xưa nay không mất làm gì lại gọi là được (hữu đắc), nếu nói có sở đắc (chỗ được) đều là chấp thức tâm mà khởi vọng, nên năng sở chưa có thể phá.

Những phần trước, kinh nói là đắc phước huệ, từ nhân bố thí, đắc quả bố thí, đây chính là tướng phần biên sự. Nay nói vô đắc, gọi là phước đức tánh mà phước đức quả không thể so sánh với nó ở trong trạng thái không. Phước đức quả thì có tướng có thể thấy được,  phước đức tánh là pháp ‘vô tướng khả kiến’,  là pháp ‘vô vi khả đắc’; trong cái vô vi hay vô tướng này không có đối tượng của ngoại tại hay hữu thể. Không chỉ là vô vi pháp khả đắc, nhưng ‘năng đắc’ cũng không.

Về phương diện tướng phần là sở đắc, kiến phần là năng đắc, năng sở đều phá, không thấy chúng sanh là sở độ, không thấy tự mình là năng độ, không thấy có chút pháp gì để đắc, điều mà Đức Phật đắc chỉ là ‘không’ nên mới ‘chứng’ đắc vô thượng, không gì hơn. Ở đây cũng  gọi là vô lượng vô số chúng sanh là ‘ngã độ giả’, thật vô chúng sanh đắc diệt độ giả.

Kinh Kim cang cho rằng nhất thiết câu không, ở phần này, đi sâu vào vấn đề quả Vô thượng bồ đề (chánh giác) thực không có pháp khả đắc. Ngài Tu Bồ Đề, ngộ được lý sâu nhiệm này, nhân lại đương cơ trực hỏi như lai đắc bồ đề, cứu cánh chân vô sở đắc? Ở đây, tuy giống nghi vấn, nhưng là chỗ liễu ngộ, gợi ý vong ngôn, rõ thông vô sở đắc mới là chân đắc, nghĩa là: vô đắc mà cũng vô bất đắc mới là chân đắc. Như khi nhìn một đám mây bay ngang bầu trời chúng ta không thể chạm tới (vô đắc) làn mây ấy, cũng không thể nói rằng đám mây ấy là hoàn toàn không (vô bất đắc). Đây là luận lý triệt tiêu hai đặc tính có và không của tư tưởng, phạm trù của chấp trước khái niệm như thực thể, dẫn đến phiền não.

Kinh nói Như lai vô pháp đắc bồ đề, diệt độ chúng sanh, thật vô chúng sanh đắc diệt độ, đạo lý nhắm đến là vô pháp trụ mà hành đạo. Lý vô đắc rất tinh tế, nếu hiểu được vô ngã, xả ly được sở tri chướng thì hành giả mới nhận chân được vô đắc, thấy mình không là gì cả, chỉ là hư huyễn. Khi Sơ tổ đến Đông độ phá lục tông, Ngài đã ‘trực chỉ nhân tâm’ khi nói đến vô đắc: Đắc (đạt) vốn đã không phải đắc, (chỉ là) đắc cái ‘đắc vô đắc’, đã không chỗ đắc rồi, thì nơi nào mà đắc được. (祖曰:得既非得,得得無得,既無所得,當何得得). Phần này, kinh muốn chúng ta buông luôn hai chữ chấp truớc là ‘vô đắc’, trong diệu pháp thường tại, không bị lạc vào ngữ ngôn văn tự, trò chơi ngụy trang của chữ viết đã bẫy chúng ta đi quá xa sự thật, chấp trước các khái niệm là chúng sanh tri kiến, càng tìm cầu trí tuệ thì càng xa vời.

Vô thượng bồ đề là bổn lai thanh tịnh trí tuệ, là khi tâm vắng lặng, ngoài niệm đối đãi được mất… Khi tâm đã yên, như sóng đã lặng dù chẳng ngoài hữu pháp khả đắc nhưng không luân lưu một pháp ngoài bầu trời lồng lộng mới thông vạn pháp,  mới là Vô thượng bồ đề. Hữu pháp khả đắc là pháp còn ràng buộc bởi ngoại tại, vô pháp khả đắc mới là giải thoát đối đãi.

Khi Phật bảo Tu bồ đề ở nơi vô thượng chánh đẳng chánh giác không có sở đắc, vì có đắc (được) tức có thất (mất), bất cứ gì đều có đắc-thất là ngoại vật, không phải tự tánh vậy. Tự tánh bồ đề, mỗi chúng sanh đều đầy đủ, đâu có thể nói đắc, không có điểm gì gọi là đắc thì gọi là Vô thượng bồ đề. Chỉ cần hiểu rằng mình vốn là thanh tịnh trạm nhiên, những điều bên ngoài chẳng tác động đến chân tánh vô thượng ấy; khi buông hết tất cả nhận thức phân biệt của con người, đó là lúc đắc được Niết-bàn Vô thượng: Đắc cái vô đắc, cũng không để cái tri kiến ‘vô đắc’ ấy chập chờn như một dư ảnh.

Thích Nữ Tịnh Quang luận giảng


無法可得分-第二十二

須菩提白佛言•世尊•佛得阿耨多羅三藐三菩提•為無所得耶•佛言如是如是•須菩提•我於阿耨多羅三藐三菩提•乃至無有少法可得•是名阿耨多羅三藐三菩提•


No comments:

Post a Comment

New York - Buddhism News

Buddhism Lion's Roar

Buddhism | The Guardian

--------------TRUYỆN NGẮN NỬA HỒN XUÂN

My photo
Garden Grove, CA, United States
Thich Nu Tinh Quang (Phuong Thi Van) is a Vietnamese-American nun. Born in 1969 in Hue, Vietnam, she currently lives in Garden Grove, California. She became a Buddhist nun in 1978. She received teachings from her own Dhamma teacher, Venerable Dieu Khong and was ordained as a Bhikkhuni in 1989. She is the abbot of Dieu Khong Temple in Garden Grove. In addition to being a PhD in religious studies, she is a poet, author, and translator.