Monday, June 22, 2026

Kinh Kim Cang - 23. Tịnh Tâm Hành Thiện

 Đoạn trên kinh nói rằng ‘vô pháp khả đắc’ (không có pháp có thể đắc), và thiện pháp cũng vậy, phi thiện pháp mới gọi là thiện pháp. Phần này, Phật cho rằng các pháp bình đẳng không có cao thấp. Thông thường, chúng ta làm việc thiện, đều hướng tâm đến cầu phước đức đối với việc làm, tức là chấp trước thiện nghiệp hữu vi, làm trước tiên là vì sự phước báu cho bản thân đều là chấp trước, đều là bất tịnh và không thể gọi là ‘Vô thượng chánh đẳng chánh giác’-sự hiểu biết trọn vẹn. Sự tịnh tâm hành thiện ở đây là không có tâm năng đắc hay sở đắc (chủ thể và đối tượng) trong việc hành thiện; năng, sở không trụ cho nên gọi là thiện hạnh. Tịnh tâm hành thiện là chỗ năng hành và sở hành đều quên, phát tâm từ bi làm việc lợi ích, với bên ngoài không có tâm niệm sở độ, với bên trong thì không chấp năng độ, không chấp bốn tướng, tu tất cả pháp lành, đây mới là chân chánh đắc bồ đề, tự tại trong việc hành xử.

Kinh nói ở pháp Vô thượng chánh đẳng chánh giác thấu rõ ‘vô pháp khả đắc’, nhưng Phật sợ Tu Bồ Đề kiến chấp ‘vô pháp’ cho nên lại nhắc nhở rằng bổn giác mỗi người đều có, chính là thánh và phàm đều không sai biệt, tất cả bình đẳng không có cao thấp, bản giác bình đẳng cũng gọi là tánh biết hay tri giác của tất cả loài hữu tình. Tất cả chúng sanh trong bốn loài có hình thù sai khác, nhưng tánh biết này không sai khác, như con kiến biết tìm đường để đi, con ong tìm nơi để sinh để sống v.v…, như thế cái biết vốn không có cao, thấp, đây gọi là sự bình đẳng tuyệt đối. Ở nơi vô ngã, vô nhơn, vô chúng sanh, vô thọ giả mà tu tất cả thiện pháp, tức đạt Bồ đề-đạt được cái thấy cái nhìn trọn vẹn dung thông giữa mình và chúng sanh bất nhị. Nói cách khác, bồ đề vốn vô pháp, ở nơi chỗ không năng, sở mà tu hành tức đắc bồ đề. Người đạt diệu pháp bồ đề, có nghĩa là người ấy đã thể nhập bản thể, không thấy mình khác biệt với các chúng sanh mà hành thiện pháp với tâm từ bi. Tất cả các pháp cũng là bất lập (giả lập) nên không dựa vào bốn tướng đó là đạo lý Bồ tát. Người hành đạo mà còn trụ ở tướng ngã, nhơn, chúng sanh và thọ mạng đều là dụng tâm ở chỗ hy cầu, còn hy cầu là còn đau khổ phiền não. Bản chất của pháp là ‘không’ nên chúng ta chẳng có thể nắm bắt được gì cụ thể, có chăng như vốc nước trong lòng tay, thấy bóng trăng ta ngỡ rằng ta vớt được ánh trăng thật. Do vậy, kinh bảo ở nơi pháp nghĩa ‘ưng vô sở trụ’ mà xiển dương chân lý cũng là nguyên tắc của một vị Bồ tát.


Khi Đức Phật bảo Tu Bồ Đề “ta nói pháp Vô thượng chánh đẳng chánh giác vốn không có cao hay thấp”, kinh muốn chúng ta nhận ra chơn tánh, nghĩa là sự nhận biết bình đẳng, ở thánh không tăng, ở phàm không giảm, mọi người đầy đủ, mọi loài đều có, cũng là tâm thức nhận biết hình thành sự sống của loài hữu tình. Phật và chúng sanh không có cao thấp nên gọi là Vô thượng bồ đề, sự khác biệt chỉ tỉnh giác và ngu mê. Ở trong chân tánh này nếu không có vọng tưởng của bốn tướng thì không bị bụi trần che lấp cho nên có thể tu tất cả thiện pháp, minh tâm kiến tánh mới có thể đắc Vô thượng chánh đẳng chánh giác.

Phật bảo Tu Bồ Đề, thiện pháp mà Như lai nói, chính là ở trong bổn tánh tự nhiên, bổn lai không ác nên cũng không có thiện đối đãi. Khi không có pháp đối đãi, làm thiện mà cũng chẳng nghĩ mình làm và sẽ có phước của thiện nghiệp, nơi tâm không chấp không trụ thì mới có thể ung dung. Ai cũng có thể làm thiện, người có tiền của thì dễ làm việc thiện hơn, khác nhau ở chỗ dụng tâm, như sự cúng dường của vua Ba Tư Nặc và bà già ăn xin, ai hơn ai?

Sự hành thiện của một vị Bồ tát khác với phàm nhân, Bồ tát tịnh tâm mà hành thiện, phàm nhân vì mong cầu mà hành thiện. Như kinh đã nói thiện pháp mà chẳng phải thiện pháp, cũng như hành thiện mà chẳng phải hành thiện, vì rốt cuộc chẳng có gì, bởi năng và sở chẳng khác. Trong mắt của một vị Bồ tát thấy chúng sanh và mình như nhau nên chẳng có đối đãi, như người mẹ lo cho con để nhận được phước thiện ở nơi nào đó ban tặng lại là điều không thể.Vì phương tiện khai ngộ chúng sanh nên tạm gọi là thiện, thực chất không phải là thiện mới gọi là thiện, như một cơn gió mát thổi qua mùa hè là bản chất của tự nhiên, những danh từ ta gán cho nó không phải là bản chất của chính nó.

Thích Nữ Tịnh Quang luận giảng

淨心行善分第二十三

復次須菩提是法平等無有高下是名阿耨多羅三藐三菩提以無我無人無眾生無壽者修一切善法即得阿耨多羅三藐三菩提須菩提所言善法者如來說即非善法是名善法


No comments:

Post a Comment

New York - Buddhism News

Buddhism Lion's Roar

Buddhism | The Guardian

--------------TRUYỆN NGẮN NỬA HỒN XUÂN

My photo
Garden Grove, CA, United States
Thich Nu Tinh Quang (Phuong Thi Van) is a Vietnamese-American nun. Born in 1969 in Hue, Vietnam, she currently lives in Garden Grove, California. She became a Buddhist nun in 1978. She received teachings from her own Dhamma teacher, Venerable Dieu Khong and was ordained as a Bhikkhuni in 1989. She is the abbot of Dieu Khong Temple in Garden Grove. In addition to being a PhD in religious studies, she is a poet, author, and translator.