Phần trước, Đức Phật nhiều lần phá chấp bốn tướng, ở phần này Đức Phật triệt phá luôn Pháp thân của Phật vốn được cho là tướng như thật. Ngài xác định rằng Pháp thân không phải là ba mươi hai tướng tốt của trượng phu như nhiều người đã tưởng. Pháp thân không phải là sắc thân, nó là những gì mà chúng ta không thể định nghĩa qua sắc, thanh của trần thế.
Phật có ba thân: Báo thân(報身/Saṃbhogakāya,
thân của thọ báo, thụ hưởng công đức, còn gọi là Thọ dụng thân), Ứng thân (應身/Nirmāṇakāya,
còn gọi là Hóa thân, hay Ứng hóa thân, là thân hóa hiện của chư Phật và Bồ
tát), và Pháp thân (法身/Dharmakāya, còn gọi là Chân thân, là thể tính của Phật, là
chân như của vạn vật). Pháp thân là pháp giới viên mãn, không có một chỗ nào mà
không phải là chân thể của pháp thân hay thể tính của Như lai. Pháp thân của
Như lai là vô tướng, cũng như không khí trùm khắp pháp giới, nên không thể trụ
ở tướng mà quán Như lai, như không thể lấy mắt để nhìn không khí, nên gọi là
phi tướng. Những hình tướng qua căn, trần, thức của chúng ta được cho là cụ
thể; tuy nhiên, chúng đều chịu sự biến đổi và sinh diệt tương tục. Hàng phàm
phu lấy sắc tướng làm thực nên tình chấp sâu nặng, là nguyên nhân của đau khổ.
Đức Phật bảo Tu Bồ Đề: “Này, Tu Bồ Đề, ông nghĩ
thế nào? Có thể do nơi ba mươi hai tướng mà thấy được Như lai chăng?”
Và Tu Bồ Đề trả lời rằng: “đúng thế…”
Đức Phật nói: “Tu Bồ Đề! Nếu do nơi ba mươi hai
tướng mà thấy được Như lai thì vua Chuyển Luân Vương chính là Đức Như lai rồi..?”
Tu Bồ Đề chợt hiểu và bạch rằng: “…Vậy thì Đức
Như lai chẳng do nơi ba mươi hai tướng mà thấy được…”
Như thế, theo văn trên, Phật và phàm đều có ba
mươi hai tướng. Sắc tướng hay ngoại tướng không thể định nghĩa sự tuyệt đối của
bản thể mà đa phần chúng ta đều nhầm lẫn. Trong các văn bản khác của Phật giáo
đều đề cập sự khác biệt của Phật và phàm phu là có ba mươi hai tướng, nhưng ở
đây lại nói lên sự thực rằng các tướng hiện hữu đều có mẫu số trùng lập, nên ở
phần này kinh muốn triệt phá ba mươi hai tướng, dạy người không thể trụ Như lai
tướng mà cho là thực tướng. Các tướng là ‘chúng duyên nhi sanh”, có sanh thì có
già và hoại, thay đổi tương tục, chấp tướng mà cho là Như lai, hay vin vào các
tướng để xác định chân lý bất biến là điều không thể. Như lai là “vô sở tùng
lai, diệc vô sở khứ”, là chân thể trạm nhiên, không tịch; đem tướng để khoanh
vùng vô tướng là nhận thức vô minh. Vậy nên Kinh Hoa Nghiêm nói: Không rõ chân
tánh kia, là người không thấy Phật. Chỉ với nội quán phản chiếu, ngay nơi tánh
mà cầu, thì Như lai có có mặt ở mỗi hướng vậy(不了彼真性,是人不見佛。惟內觀返照,即性而求,如來得諸方寸矣).
Sự thật cũng vậy, không phải ở nơi ngoại tướng,
tướng đẹp mới đúng là đẹp. Căn, trần và thức của chúng ta cũng chỉ có một vài
cái nhìn và quan điểm chung, chứ không phải đều giống nhau qua cách nhìn.
Đa phần người tìm đạo đều trụ tướng, chấp tướng
làm thật nên không bao giờ thấy được lẽ thật. Lẽ thật đã không thấy thì làm sao
có tuệ, tuệ đã không thì phiền não cứ mãi luân chuyển. Thông thường chúng ta
sống với tâm trụ chấp kiên cố khó mà chuyển được, nên đau khổ cũng khó mà lay.
Nhân gian thì trụ vào sắc dục, trụ vào chồng, vào vợ, vào con, vào cháu, trụ
vào tiền tài, danh tước, trụ vào nhà đẹp xe sang… như những thực thể cố hữu,
người tu thì trụ ở chùa to, trụ vào Phật tử, trụ vào quyền chức, trụ vào pháp,
chấp vào tông làm thật mà quên rằng chỉ là phương tiện (giả lập) nên vấn đề mãi
còn với những chấp thủ riêng biệt. Đa phần quên rằng chúng ta không thể riêng
biệt mà luôn tồn tại với những định luật chung, cũng như các thể chế tôn giáo
và chính trị, không có một tôn giáo duy nhất hay lớn nhất điều hành trên trái
đất, vì các thể tướng của chính trị không phải duy nhất.
Khi Tu Bồ Đề hiểu được ý Phật, Đức Phật nhân đây
chỉ về kệ ly tướng: “Nếu dùng sắc thấy ta, dùng âm thanh cầu ta, người này tu
tà đạo, không thể thấy Như lai.”
Đem sắc và thanh mà cầu kiến chân tánh thì những
người này là tà đạo, là chấp sắc thân bên ngoài để thấy Phật, bỏ đường chánh
theo đường tà, hướng ngoại tìm cầu, tức là tà đạo, quyết không thể thấy bổn lai
diện mục của Như lai được!
Người hiểu được ý kinh là người hiểu được Pháp
thân thanh tịnh của chính mình. Không phải chỉ là triết lý, mà là nghệ thuật
trở về, bỏ lại sau lưng những sắc thanh ồn náo để thấy được sự rỗng rang tịch
lặng ngàn đời như bầu trời trong yên tĩnh chưa từng xao động.
Thích Nữ Tịnh Quang luận giảng
法身非相分第二十六
須菩提•於意云何•可以三十二相觀如來不•須菩提言•如是如是•以三十二相觀如來•佛言•須菩提•若以三十二相觀如來者•轉輪聖王•即是如來•須菩提白佛言 •世尊•如我解佛所說義•不應以三十二相觀如來•爾時世尊而說偈言•若以色見我•以音聲求我•是人行邪道•不能見如來

%20-%20Copy%20-%20Copy.png)
No comments:
Post a Comment