Khi đã phá tướng hữu, cho rằng không phải do sắc mà thấy Phật, không thể tìm Phật qua âm thanh; tuy nhiên, nếu ở nơi ‘không’, người tìm giác ngộ cũng không thể nào giác ngộ trọn vẹn, nên kinh phá luôn chấp đoạn diệt tướng.
Ở Phần này Kinh nói rằng, nếu nghĩ rằng Đức Phật chẳng do nơi tướng cụ túc ấy
mà đắc quả vị Vô thượng chánh đẳng chánh giác và rằng người phát tâm ở nơi quả
vị Vô thượng nói rằng các pháp đều là đoạn diệt là ngoa, không đúng.
Người chấp trước pháp thế gian, tri kiến điên đảo, nên ở trong đoạn gọi là thường,
ở trong thường chấp là đoạn. Pháp Bát nhã là tương tục, vô tận, không gián đoạn
hay dứt điểm, không thể gọi là đoạn. Tuy là thường pháp mà pháp Bát nhã diệu dụng
tùy duyên ứng dụng nên cũng không thể gọi là thường. Gọi là vô đoạn, là gọi Bát
nhã pháp, vốn phi đoạn phi thường, không thể dùng cái thấy đoạn hay thường để
phân biệt. Diệt ấy là cái diệt của sanh diệt, không phải là đoạn diệt bản thể của
trí tuệ. Giống như chúng ta thấy mặt trời khi mọc khi lặn, khi có khi không; sự
thực thì mặt trời không có mọc hay lặn, không phải có cũng chẳng phải không, chỉ
là do quả đất xoay tròn trong một điểm sáng. Người thế gian không ngộ thật tế
bát nhã, với sanh mà cho là diệt, với diệt mà cho là sanh. Bản thể cũng vậy,
trong diệt mà tâm thể vốn vô sanh nên không thể gọi là diệt. Ở trong sanh mà bản
tâm vốn vô diệt nên không thể gọi là sanh. Kinh nói vô diệt, nghĩa là pháp bát
nhã (hay tâm pháp) vốn bất sanh bất diệt, không thể dùng pháp luận sanh diệt để
lý giải. Vậy nên Phật nói: “người phát tâm giác ngộ vô thượng không thuyết (hay
trụ) tướng đoạn diệt.
Ba mươi hai tướng, là tướng trang nghiêm đầy đủ, biểu tượng cho Phật vô lượng
công hạnh phước báo. Tuy nhiên, Phật đắc bồ đề, không duyên theo diệu tướng mà ở
nơi công hạnh, khi công đức viên mãn, diệu tướng tự hiện, nhân gian nhìn thấy
phát khởi cung kính. Ở Diệu tướng này, không thể chấp có (tướng chỉ là pháp hữu
vi vô thường), cũng không thể chấp không (vì nó có biểu hiện). Chấp có thì trụ ở
nhất biên tướng, không thể thấy Như lai (Như lai là không đến-đi, không thay đổi),
chấp không thì trụ ở phi nhất biên pháp, làm sao có thể dụng công tu hành.
Cho nên trong văn nói, nếu ông nghĩ như thế…chớ nghĩ như thế, ở nơi tướng cụ
túc, người phát bồ đề tâm sao có thể nói pháp đoạn diệt; đoạn này kinh phá phi
tướng, phá lạc tưởng, chấp không của học giả.
Để phá pháp thường, hữu, Phật nói: Ông chớ nghĩ rằng, Như lai sự thật không vì
duyên của diệu tướng mà đắc vô thượng bồ đề. Để phá trầm không trệ tịch, nơi
các pháp Phật nói: Người phát tâm vô thượng Bồ đề, đang cầu giác ngộ, không thể
nói Pháp đoạn diệt, vì nếu chấp không, không dụng pháp tu hành, diệt mất trí tuệ
mà ở nơi tướng đoạn diệt, trầm tịch của phiền não.
Ý chỉ của kinh là ứng dụng pháp tu hành, chấp không mà bất đoạn, vô mà không diệt,
mới thực sự giải thoát rốt ráo.
Thích Nữ Tịnh Quang luận giảng
無斷無滅分第二十七
須菩提•汝若作是念•如來不以具足相故•得阿耨多羅三藐三菩提•須菩提•莫作是念•如來不以具足相故•得阿耨多羅三藐三菩提•須菩提•汝若作是念•發阿耨多羅三藐三菩提心者•說諸法斷滅•莫作是念•何以故•發阿耨多羅三藐三菩提心者•於法不說斷滅相•

%20-%20Copy%20-%20Copy.png)
No comments:
Post a Comment