Dung nạp vào tâm là thọ (thụ), tiếp nhận từ ngoài vào trong là thọ. Đối với ngoại trần tướng mà sinh tâm yêu ghét đều gọi là thọ (cảm thọ). Toàn thể chúng sinh đều sống trong cảm thọ. Trong thuận nghịch cảnh chúng sanh sanh tâm động niệm vui buồn… đều gọi là thọ cả. Khi hành giả vẫn còn gốc rễ của tiếp nhận, là vi tế ngã chưa mất. Khi đã thông đạt vô ngã pháp tức vô thọ, năng sở câu không, nghĩa là bản ngã của thọ đã không, cho nên gọi là bất thọ.
Thường
thấy không đủ là tham, tham cầu cái vui của ngũ dục thô: tài, sắc, danh, ăn, ngủ,
(hoặc sắc, tiếng, hương, vị, xúc); tuy nhiên, cầu phước đức cũng là tham, cầu
chứng đắc Niết bàn cũng là tham vi tế. Sau khi Bồ tát đã ngộ được vô ngã, không
còn niệm tham, không cầu phước đức, không hướng Niết bàn, gọi là không tham.
Ở
phần trước Kinh nói Pháp phi đoạn diệt- Pháp lại không thể trụ dù đem bảy báu đầy
cả các thế giới nhiều bằng số cát sông Hằng để làm việc bố thí thì phước đức cũng
không bằng người biết lý vô ngã của tất cả pháp mà đắc thành ở nơi kham nhẫn. Đoạn
này nói rằng, nếu có người
biết tất cả là vô ngã, đắc thành ư nhẫn, loại người này, tức là chơn Bồ tát, hơn
những Bồ tát bố thí phước đức. Tại sao vậy? Dù bố thí bảy báu vô lượng, không
thể tính kể, nhưng nếu còn thọ niệm phước đức, còn tham cầu phước đức cho bản
ngã thì chưa có thể giác ngộ, giải thoát. Bản chất của sự giải thoát là tự do từ
bản ngã cố hữu, không phải là ngục tù của các khái niệm dựa trên những vật thể.

Chư Phật và Bồ tát dùng đầy đủ các vật báu bố thí, nhưng hiển thị vô trụ công đức
hành thí. Bảy báu bố thí công đức vô lượng là dạy người phát tâm; tuy nhiên, hành
giả thực hành hạnh Bồ tát thực hành công hạnh mà lìa bốn tướng, nơi phước đức
không thể dùng tướng quán, lại không thể nói các tướng ấy là đoạn diệt, như thế
là trụ ở chơn đế, đối với công đức thì chẳng thọ mà cũng chẳng tham. Đây chính là
phá phước đức tướng không thể trụ, phá chấp hữu của các học giả.
‘Nhất thiết pháp vô ngã’, người không thể vô ngã đều do ở bất năng nhẫn-không
có năng lực chịu đựng,làm sao có thể vô ngã? Hàng Bồ tát khi tu lục độ Ba la mật,
lấy nhẫn nhục ba la mật (trí nhẫn rốt ráo)làm bản lãnh kiên cường. Thực hành vô
ngã, bất thọ bất tham, không mình không người bao gồm tiến trình của ba loại cảnh
giới mà Bồ tát phải trải qua: Âm hưởng nhẫn(giới nhẫn), Nhu thuận nhẫn, và Vô
sanh pháp nhẫn; nhẫn lực ở đây là đạt đến trình độ Vô sanh pháp nhẫn, có khả năng
chinh phục bản ngã, chịu nhẫn mà quên luôn nhẫn, chịu nhục mà quên luôn nhục,
không thọ công đức, chẳng tham Niết bàn, nhân thế vô ngã không cầu mà thành. Đại
Ai kinh nói: “Rõ biết tất cả pháp và sở tánh như hư không, một tướng cũng không
sanh niệm, chính là Vô sanh pháp nhẫn (了知一切法及所生如虛空,一相不生,是為無生法忍。又稱第三法忍《大哀經》).
Như thế thì bồ tát sở đắc phước đức (bố thí bảy báu vô lượng)so với
Bồ tát vô ngã đối với phước đức khác xa rất nhiều. Với nhân ở nơi ly tướng, thì
‘đắc’ được thù thắng quả hơn nhưng mà bất thọ vậy. Tu Bồ Đế hướng Phật hỏi: Thế
tôn, tại sao các vị Bồ tát không nhận lấy (thọ) phước đức? Phật trả lời: Bồ tát
làm việc phước đức mà không tham cầu, chấp trước, nên gọi là bất thọ phước đức.
Khác với chúng sanh,
hành phước đức, độ sanh đều có mục đích, có mong cầu và thọ hưởng danh vọng ngất
ngưỡng từ bản ngã gắn liền với vật thể, Bồ tát độ sanh bố thí là hành sở đương
hành, tâm không trước tướng, biết tất cả pháp vô ngã, không có niệm công đức,
không tham không thọ, hoàn toàn tự tại.
Thích Nữ Tịnh Quang luận giảng
不受不貪分第二十八
須菩提•若菩薩以滿恆河沙等世界七寶•持用布施•若復有人•知一切法無我•得成於忍•此菩薩•勝前菩薩•所得功德•何以故•須菩提•以諸菩薩•不受福德故•須菩提白佛言•世尊•云何菩薩不受福德•須菩提•菩薩所作福德•不應貪著•是故說不受福德•
%20-%20Copy%20-%20Copy.png)
No comments:
Post a Comment